Blogger Widgets

Thứ bảy, ngày 19 tháng mười một năm 2011

NGUYỄN KHOA ĐIỀM: HẠ LONG KHÔNG NÓI VỀ MÌNH

BẦU CHỌN HẠ LONG: NGƯỜI VIỆT BỊ MÓC TÚI ?

Cuộc bầu chọn kì quan thế giới mới do Tổ chức New Open World  phát động đã khép lại sau 4 năm rình rang. Cuối cùng thì những người Việt trọng danh đã đạt được mong muốn của mình: Vịnh Hạ Long lọt vào tốp 7 kì quan thế giới mới.

Trước sự kiện đó, nếu bảo không vui thì không phải và không là người yêu nước bởi chính người viết bài này cũng đã không tiếc mấy trăm đồng để gửi một cái tin nhắn góp gió cho Hạ Long bay cao, bay xa. Nhưng nỗi buồn thì không nhỏ. Đọc những thông tin gần đây xung quanh chuyện bầu chọn này mới thấy cái trớ trêu của sự đời. Sau khi có kết quả bình chọn, UNESCO vẫn khẳng định rằng đây là kết quả của một dự án cá nhân, và rằng “Dự án này, về cả tầm quan trọng và ý nghĩa bền vững, không thể đóng góp vào việc bảo tồn các địa danh sau khi được bình chọn”.

Một tổ chức cá nhân của nước người mà khuấy động được cả hệ thống chính trị của ta tham gia cổ vũ thì thật là một chuyện ngoài sức tưởng tượng. Quả thực bái phục tài mê hoặc, giỏi “ma-két-ting” của cái ông “New Open World” ! Chỉ sau một thời gian rất ngắn, một hai tháng gì đó, công cuộc bầu chọn theo tinh thần thể dục của cụ Nguyễn Công Hoan xưa đã mang lại kết quả không ngờ: 24.090.156 tin nhắn của người Việt gửi qua tổng đài 147 bình chọn cho Hạ Long. Không biết New Open World có dám công khai số phiếu bình chọn trên khắp thế giới cho các kì quan không, bởi nếu bầu chọn qua trang mạng của New Open World thì thử hỏi được bao nhiêu phiếu ? Tôi dám chắc là không nhiều bởi thủ tục bầu qua trang web của New Open World nhiêu khê, chẳng mấy ai dư hơi sức để làm nếu không vì một sự ép buộc kiểu như ông chúa đảo Tuần Châu đã áp dụng với nhân viên của mình. Còn bầu chọn qua tin nhắn di động thì duy nhất chỉ một cú pháp cho địa danh nước mình với số lần không giới hạn thì thử hỏi làm sao mà khách quan, vô tư ?

24.090.156 tin nhắn nhân với cái giá 630 VND thành ra số tiền 15.176.798.280. Một nửa trong số đó nghĩa là hơn 7,5 tỉ trút vào hầu bao của New Open World chỉ trong vòng một tháng. Đấy là chưa kể các khoản thu của họ qua bầu chọn trên mạng, khoản phí liên kết đường link đến trang new7wonders với giá 25.000 USD/ tháng. Người Việt yêu nước đã vô tư móc túi mình làm giàu cho kẻ khác mà không hay biết mình bị lừa. Nghĩ như thế càng thấy cái giá phải trả cho cái danh to không chỉ đắt về tiền bạc mà còn vô nghĩa lí vì bị trục lợi và không được một tổ chức hợp pháp đại diện cho thế giới như UNESCO thừa nhận.

Không lâu đâu, sự ồn ã rồi sẽ chìm lắng theo thời gian. Chỉ còn lại Hạ Long-kì quan đích thực của tạo hóa sừng sững giữa trời nước bao la:

Trầm ngâm trên biển xanh
Hạ Long không nói về mình…
Vượt ra ngoài dục vọng
Khổng lồ mà thong dong…
                   (Nguyễn Khoa Điềm)

Buôn Ma Thuột, 16-11-2011
Nguyễn Duy Xuân

-->đọc tiếp...

LỜI TẠ LỖI VỚI ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TRƯƠNG TRỌNG NGHĨA


LỜI TẠ LỖI VỚI ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TRƯƠNG TRỌNG NGHĨA
Kính thưa đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa,
Kính thưa đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc,
Kính thưa chú Nguyễn Xuân Diện,
Kính thưa toàn thể bạn đọc theo dõi blog Nguyễn Xuân Diện,

Trong bức Thư Ngỏ gửi đại biểu Dương Trung Quốc và toàn thể đại biểu Quốc hội khóa XIII vừa qua mà cháu đã gửi nhờ chú Nguyễn Xuân Diện trao tận tay đại biểu Dương Trung Quốc đã có 1 sự nhầm lẫn.

Đó là căn cứ theo thông tin ban đầu từ báo Vneconnomy http://vneconomy.vn/20111117025218325P0C9920/tranh-luan-gay-gat-du-an-luat-bieu-tinh.htm cháu đã nhầm tên vị đại biểu quốc hội đồng tình với ý kiến của đại biểu Hoàng Hữu Phước. Theo tin từ báo này thì đại biểu đó là đại biểu Trương Trọng Nghĩa. Nhưng thông tin sau đó từ báo Tuổi Trẻ http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/465571/Chua-can-Luat-bieu-tinh-vi-dan-tri-thap.html, báo SGGP http://www.sggp.org.vn/phapluat/2011/11/273672/ và từ bạn bè thì đó là không chính xác. Sau khi kiểm chứng, cháu xin chính thức thừa nhận sai sót, xin đính chính và vô cùng xin lỗi đại biểu Trương Trọng Nghĩa, chú Nguyễn Xuân Diện, đại biểu Dương Trung Quốc và toàn thể bạn đọc đã đọc bản lưu trữ của bức thư ngỏ trên tại blog Nguyễn Xuân Diện.

Thông tin đính chính như sau: Người đã đồng tình và ủng hộ ý kiến của đại biểu Hoàng Hữu Phước là đại biểu Đặng Ngọc Nghĩa chứ không phải là đại biểu Trương Trọng Nghĩa.

Đối với riêng đại biểu Trương Trọng Nghĩa, cháu xin dập đầu tạ lỗi vì đã nhầm lẫn dẫn đến việc vô tình xúc phạm danh dự của bác. Cháu mong nhận được sự tha thứ và không chấp của bác. Cháu thành thật xin lỗi và xin chân thành cảm ơn.

Cháu xin nhờ chú Nguyễn Xuân Diện, nếu chưa trao thư ngỏ cho đại biểu Dương Trung Quốc, thì xin đính chính lại giúp cháu, cụ thể là sửa cụm từ Trương Trọng Nghĩa lại thành Đặng Ngọc Nghĩa, đồng thời gửi kèm cháu bản thư tạ lỗi này đến trực tiếp tận tay đại biểu Trương Trong Nghĩa (hoặc có thể nhờ bác Dương Trung Quốc chuyển giúp nếu bác ấy đồng ý) và đăng lên blog Nguyễn Xuân Diện để tất cả bạn đọc được tường.

Một lần nữa cháu chân thành xin lỗi đại biểu Trương Trọng Nghĩa vì đã làm bạn đọc hiểu lầm dẫn đến xúc phạm bác. Cháu xin lỗi chú Nguyễn Xuân Diện vì đã sai sót khiến chú bị liên đới trách nhiệm. Và cháu xin lỗi toàn thể bạn đọc blog Nguyễn Xuân Diện vì đã chuyển đến mọi người 1 thông tin sai lệch.

Cháu xin chân thành cảm ơn.
Cháu
Một Người Việt Nam

-->đọc tiếp...

TỪ LIÊN HOAN CA TRÙ TOÀN QUỐC, NGHĨ VỀ HIỆN TRẠNG VÀ KỲ VỌNG

Từ liên hoan Ca trù toàn quốc nghĩ về hiện trạng và kỳ vọng
Phạm Quỳnh Hương
Vừa rồi nghe thông tin về Liên hoan ca trù được tổ chức tại Viện Âm nhạc, tôi đã đến để được nghe và tìm hiểu thêm về ca trù. Xin có đôi dòng cảm nhận về ca trù của thời buổi hiện đại. 
. 
Hát Ca trù. Tranh sơn dầu Phạm Công Thành (2005)
Di sản, sức sống bất diệt
Sự phát triển, xâm nhập mọi mặt đời sống
Ca trù đã từng được ca ngợi trong quá khứ như là “một lối chơi tao nhã, lịch lãm, trong đó văn chương, âm nhạc hoà quyện làm một, tạo nên một vẻ đẹp hoang sơ mộc mạc mà khúc triết tinh tế, dân gian mà bác học, thực mà ảo huyền vi diệu. Ca trù sinh ra trong cái nôi của văn hoá dân gian, lớn lên trong nguồn mạch bất tận ấy và mang trong mình diện mạo của bản sắc văn hóa Việt Nam. Ca trù trở thành một bộ môn nghệ thuật bác học vào bậc nhất của nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam”. Theo các nhà nghiên cứu, ca trù được diễn xướng tại rất nhiều không gian. Từ đình miếu, đền đài thâm nghiêm đến các ca quán, và nơi gia đình. Ngay cả nơi giáo đường thênh thang uy nghiêm, các con chiên cũng hát ca trù để ca ngợi Chúa. Trong dân gian, diễn xướng ca trù thể hiện trong rất nhiều sinh hoạt đời sống như ca trù trình diễn tại gia mỗi khi có khao vọng, “cho dù là khao thọ, khao thi đỗ, khao được thăng chức, hay khai trương cửa hiệu, hoặc mừng đón nhau về hoặc mừng tiễn nhau đi.  Rồi những khi thư thả việc công, những lúc buồn vui, người ta lại đến các ca quán để thưởng thức ca trù. 

Một thời hoa dập, liễu vùi
Trước đây, có lẽ từ sau năm 1945, trong một thời gian khá dài sinh hoạt ca trù vốn tao nhã trước đây đã bị hiểu lầm và đánh đồng với các sinh hoạt thiếu lành mạnh ở một số ca quán đô thị, và ca trù đã bị loại ra khỏi đời sống văn hóa. Suốt trong thời gian dài, ca trù đã không được phát triển một cách tự nhiên, phải chịu phê  phán, và điều tiếng. Nhiều nghệ nhân, nghệ sĩ đã phải cố quên đi nghiệp đàn hát và giấu đi lai lịch của mình. Ca trù đã gần như đi vào khúc lụi tàn. Khoảng chục năm trở lại đây, ca trù đang tìm lại cho mình một chỗ đứng trong đời sống văn hóa phong phú đa dạng hôm nay. Và như vậy, sau sáu bảy mươi năm vắng bóng, ca trù lại bắt đầu hồi sinh.

Ca quán Khâm Thiên. Tranh sơn dầu Chu Mạnh Chấn
Trải qua nhiều sóng gió, dập vùi, mà ca trù vẫn tồn tại. Điều đó càng thể hiện giá trị, và vai trò của ca trù đối với đời sống xã hội. Những chính giá trị văn hóa tạo ra sức sống của ca trù. Bà Quách Thị Hồ kể rằng: Hồi trước có mấy ông lãnh đạo văn hóa nói thẳng vào mặt tôi rằng: "Cái nghề ca trù của bà chỉ phục vụ bọn thực dân phong kiến, cái cây đã chết, cho nó chết, lấy đâu hoa mà nở". Lúc đó tôi cười: "Rồi xem, hoa có nở không?". Bà Quách Thị Hồ kể lại: Người ta đã vục mặt chúng tôi xuống bùn. Tại sao vậy, thưa bà? Có lẽ người ta hiểu lầm hát ca trù - cô đầu - ả đào ở Khâm Thiên, ở Vạn Thái, ở Bạch Mai là loại “hát ôm”, đĩ điếm và họ thấy quan lại thường đến ăn chơi ở đó nên cho là văn hóa… đồ trụy.  Sự hồi sinh của ca trù chính là bằng chứng cho thấy giá trị được thẩm định qua thời gian, với sức sống bền bỉ vượt qua bao thăng trầm. Giá trị văn hóa đó sẽ khẳng định được vị trí của ca trù trong xã hội hiện đại. 

Hiện trạng
Sự quan tâm trở lại của nhà nước, các CLB hay là sự kinh doanh méo mó
Những đầu tư, quan tâm của nhà nước quản lý nhà nước với sự đầu tư, bao cấp, tạo nên sự bùng phát của ca trù trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, cũng tạo ra một kiểu ca trù “mậu dịch” cùng các liên hoan toàn quốc đi cùng với bệnh thành tích. Những người trong nghề. Và những nhà nghiên cứu văn hóa đã nói về một hiện thức rằng nhiều đào nương, kép đàn chỉ biết một hai thể cách, đi hát được huy chương tại liên hoan, nhưng thực tế hát chưa đúng giai điệu, phách còn sai lạc. Có người được ca ngợi, đánh giá cao, nhưng vẫn chưa thể hiện được cái chất  ca trù. Nhìn chung, phong trào rầm rộ, phát triển, nhưng chất lượng vẫn bị các nhà chuyên môn, và những người trong nghề cho rằng vẫn còn quá non. Câu hỏi của GS. Nguyễn Văn Huy khi nói về văn hóa cồng chiêng, ta cũng có thể đặt câu hỏi tương tự cho ca trù: đầu tư của nhà nước như vậy đã đúng hướng chưa? Nhiều liên hoan các cấp rất hoành tráng, nhưng cộng đồng người hoạt động ca trù được lợi gì?

Song song với việc đầu tư của nhà nước là việc chạy theo kinh doanh, lợi nhuận của các các ca nương, và các CLB. Nó tạo ra sự bùng phát, nhưng cũng tạo nên sự méo mó. Theo các nhà chuyên môn, nhiều ca nương, hoặc thậm chí ca sĩ, nghệ sỹ chèo, cải lương coi Ca trù là một “món ăn” lạ, là một “mốt” để theo họ theo học với thời gian “siêu tốc”. Kết quả là công chúng phải thưởng thức một ca trù chưa thật là ca trù, hoặc lai căng hoặc thậm chí là biến dạng và méo mó. Do tác động của thị trường, nhiều ca nương chỉ nhằm vào việc nhanh thuộc lời và giai điệu, chứ chẳng mấy quan tâm đến ý nghĩa nội dung bài hát, và nguồn gốc xuất xứ. Còn nói đến không gian hát ca trù, hoặc cách lấy hơi nhả chữ thì lại càng không phải là điều đáng quan tâm. Tâm lý ăn sổi thể hiện rất rõ: “Bây giờ thời đại @, chúng tôi bỏ ra vài năm học ca trù để... chết già à?”. Ngay chính nghệ nhân Quách Thị Hồ cũng đã nói về sự học nghề của ca nương thời nay: Này, cậu hỏi tôi sao không truyền nghề ca trù à? Ai mà học? - Thưa bà, có một số ca sĩ nói rằng họ là học trò của bà. - Tôi muốn họ quên tôi đi. Xấu hổ lắm! Bởi mấy anh chị ấy đến tôi chỉ xin học vẹt, học lỏm từng bài, để mà đi khoe, đi diễn, rằng ta hát ca trù, chứ có ai muốn học nghề, học đến nơi đến chốn đâu? Mà học làm gì?

Người trong nghề cũng nhận thấy rằng không chỉ ca nương chạy theo những hợp đồng ở nhà hàng, tiệc cưới hay chương trình nghệ thuật tạp kỹ mà các câu lạc bộ cũng chạy theo thị trường để làm sao vừa có danh vừa có lợi. Họ chạy theo các sô béo bở, nếu nhận được hợp đồng biểu diễn sẽ gọi người đến đàn hát. Điều này cũng làm cho tính nghệ thuật, chất lượng ca trù giảm đi, hoặc biến dạng.

Các chuyên gia cho rằng trong giai đoạn này chưa thể yêu cầu các nghệ nhân, các đào nương tự kiếm sống để truyền nghề, mà cần sự hỗ trợ để họ tổ chức hoạt động và cũng cần có thời gian để tạo ra những khán giả cho loại nghệ thuật này. Để giải bài toán kinh phí cho hoạt động ca trù, đồng thời làm giảm tác động của kinh tế thị trường, GS Nguyễn Văn Huy đã đưa ra một gợi ý. Các quỹ hỗ trợ văn hóa, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp và những nhà hảo tâm có thể đóng vai trò hỗ trợ mà GS Huy gọi là “bà đỡ” cho nghệ thuật ca trù. Nhà nước có thể có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp tài trợ cho văn hóa, chẳng hạn họ sẽ được miễn giảm thuế một chút. Ở các nước Âu - Mỹ đã có nhiều kinh nghiệm, cũng như có nhiều nghiên cứu về những hoạt động tài trợ văn hóa như thế này. Như vậy, tăng cường vai trò của các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm đối với hoạt động văn hóa là điều cần khuyến khích hiện nay, đặc biệt đối với ca trù.

Chắc chắn, đến một lúc nào đó, điều kiện kinh tế-xã hội phát triển hơn, ca trù sẽ lại tự sống được bằng chính giá trị nghệ thuật của mình. Còn hiện trạng hiện nay sẽ khiến cho ta nhớ đến một câu của đào nương xưa: “Nào những ông nghè ông cống ở đâu /để cho ông lão móm ngồi câu con trạch vàng”. 

Tác động của ngắt quãng về nghề
Sau khi ca trù được UNESCO ghi danh, đã được quốc tế biết đến và nhiều người quan tâm. Các câu lạc bộ, nhóm ca trù đua nhau thành lập. Nhiều người trẻ muốn tham gia học đàn hát. Đó cũng là một tín hiệu đáng mừng. Tuy nhiên, do có sự đứt quãng trong truyền nghề nên hiện nay có tình trạng các nghệ nhân thế hệ trước phần lớn tuổi đã quá cao, sức khỏe yếu nên thời gian dạy trực tiếp cho ca nương trẻ cũng rất ít, trong khi đó các ca nương trẻ thì lại còn rất non yếu trong nghề. Thêm vào đó số lượng thầy dạy còn khá ít, nên việc truyền nghề bị hạn chế. Kết quả là thay vì học trực tiếp từ ca nương, nhiều người đã phải học qua băng đĩa.

Ngoài chuyện thiếu thày, thiếu trò, một thực tế ở hầu hết các địa phương là sự hiểu biết, nhận thức của cán bộ văn hóa còn hạn chế. Dẫn đến gắn, ghép, ca trù với các loại hình dân ca khác. Hoặc thay vì dùng đàn đáy trong ca trù, những nhạc cụ khác như đàn nguyệt, đàn bầu cũng được đem ra sử dụng.

Một khó khăn nữa vẫn được những người trong nghề ca trù nhắc đến, đó là không gian biểu diễn của ca trù đang mất dần đi. Có ý kiến cho rằng chúng ta đang biến ca trù thành một thứ ca múa nhạc khác hẳn với không gian văn hoá sinh ra những bài hát ấy. Ông Nguyễn Quảng Tuân nói: “Ca trù là thú vui tao nhã, trong không gian thính phòng. Không gian thính phòng mà đem ra ngoài sân khấu, đem ra ngoài Văn Miếu thì không phải rồi. Nếu đem ra đại chúng, ra sân khấu ồn ào mà diễn thì không có được”.  Tuy nhiên, mọi loại hình văn hóa nghệ thuật đều nhằm mục đích phục vụ nhu cầu thưởng thức văn hóa của con người. Mà xã hội con người luôn biến đổi. Vì vậy, bên cạnh việc khôi phục lại một số những không gian diễn xướng cổ, ca trù cũng cần có không gian mới của nó cho những con người hiện đại.

Không chỉ không có thày, không có sàn diễn mà người học nghề hiện nay còn phải học nghề trong tình trạng môi trường xã hội của nghề lại không có. Điều này giống như ăn phở ở nước ngoài. Chính môi trường xã hội của ca trù là cái tạo cho người nghệ sỹ có cảm nhận về cái hồn của ca trù. Và cái môi trường đó mới giúp cho hồn ca trù thấm vào trong máu của người nghệ sỹ, và người nghe. Nếu không sẽ chỉ là ăn phở ở Cali, Hongkong hay đâu đó, chứ không thể có cái chất phở như Nguyễn Tuân đã tả. 

Kỳ vọng
Trong khi nhiều ý kiến đánh giá của các chuyên gia cho thấy liên hoan ca trù đã thể hiện những bước tiến rõ ràng trong thời gian vừa qua, nhiều người trong nghề vẫn chưa ai thấy hài lòng. Quả thực đó là sự kỳ vọng. Kỳ vọng so với quá khứ huy hoàng. Trước thực tế ca trù bị chèn ép, bị ngắt quãng về thế hệ trong một thời gian dài, nay thực trạng không còn gì nhiều, thì kỳ vọng của những người trong cuộc, dường như là một dạng sức ép đối với thế hệ trẻ.

Đã có đào nương có cách nhìn thực tế hơn khi phần nào giảm bớt yêu cầu của mình, bớt khắt khe đi...

Kinh doanh trong thời buổi thị trường: Từ mọi phía, cả nhà quản lý, cả CLB, cả người biểu diễn đều nhìn ca trù như là một nghề kiếm tiền, chứ chưa nhìn đó như là một loại hình nghệ thuật độc lập, có sức hút, có sức sống riêng. Mặc dù có nơi ca trù được coi là “đặc sản” nhằm thu hút du lịch cho địa phương, ca trù hiện nay vẫn đang ở mức được đầu tư kinh phí, CLB bỏ tiền ra để vận động thanh niên theo học, chứ chưa thể nói là có lượng người đam mê theo đuổi nghệ thuật. Mọi người vẫn nghĩ phục hồi nó dựa vào sự nuôi dưỡng từ bên ngoài, mà chưa nhận thấy cần tìm cách để tiếp sức, để nó tự sống bằng sức sống của chính nó. 

Đời sống riêng cho ca trù
Nuôi dưỡng sức sống ca trù
Để có thể tồn tại, và phát triển, hay nói cách khác để có sức sống vươn lên trong môi trường xã hội hiện đại vốn tồn tại rất nhiều loại hình ca nhạc, và giải trí, ca trù cần có những điều kiện nhất định.

Trước hết, ca trù phải đáp ứng nhu cầu của một những nhóm xã hội nhất định. Nếu không ai có nhu cầu thì ca trù sẽ chết. Cái mà ca trù có thể đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại đó là xả xì trét, thư giãn tinh thần. Ca trù vốn được coi là tao nhã, và bác học, vì vậy nó gắn với một tầng lớp xã hội có học vấn, có văn hóa nhất định chứ ko thể là đại chúng. Đây là đặc điểm khiến ca trù tồn tại, nhưng đó cũng chính là cái khó nếu muốn phát triển mở rộng ca trù. Mỗi loại hình văn hóa, nghệ thuật tồn tại được là bởi chính nó có sức hút, chính nó đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của các tầng lớp dân cư. Khi nó còn đáp ứng nhu cầu, khi người dân còn cần đến nó thì nó còn có sức sống.

Thứ hai, khi nhìn thấy xã hội có nhu cầu rồi, thì cũng giống như những loại sản phẩm khác muốn biết đến và sử dụng “sản phẩm” ca trù cần có bước giới thiệu sản phẩm. Ngày xưa, người dân tiếp xúc với ca trù từ khi còn bé. Các cụ ngày xưa khi lớn lên trong môi trường xã hội của ca trù thì con người đương nhiên có được những hiểu biết, khả năng cảm nhận, và thưởng thức ca trù. Còn ngày nay, do đã bị đứt đoạn, chắc chắn phải có giai đoạn “giới thiệu lại sản phẩm”. Thêm vào đó, nghệ thuật ca trù vốn được coi thuộc "đẳng cấp" chuyên nghiệp, không phải ai cũng thấu hiểu. Đặc tính của ca trù có một lượng công chúng có chọn lọc theo niềm đam mê chứ không phải quá đông đảo. Vì vậy, ông Nguyễn Văn Huy cho rằng cái khó của ca trù là phải giới thiệu để nhiều người biết, đến nghe  và giúp họ hiểu hơn về nghệ thuật ca trù. Hay nói cách khác, những chương trình truyền thông nâng cao nhận thức, nâng cao khả năng cảm nhận, thưởng thức ca trù sẽ giúp cho mọi người trong xã hội đến gần hơn với ca trù. Ông Nguyễn Quảng Tuân nói: “Cái khó của thưởng thức ca trù là lời của nó thì nhiều người không hiểu. Nghe ca trù là đi thưởng văn. Bây giờ người ta chỉ đang làm cho mọi người thấy ca trù là thế nào. Thế thôi. Chứ không phải là thưởng thức ca trù.” Nhằm quảng bá ca trù, ông Tô Ngọc Thanh gợi ý: các nhà nghiên cứu có thể nói về nhịp phách, về cách “đổ hột” của đào nương”. Tuy nhiên, để ca trù có thể đi vào đời sống của nhiều tầng lớp xã hội khác nhau thì cần nhiều loại hình hoạt động quảng bá khác nhau, chứ chắc không chỉ cần có truyền hình. Cách kết hợp trình diễn, với bình và giảng sẽ giúp người nghe hiểu, và cảm thụ ca trù tốt hơn. Các nhà nghiên cứu, các nhà văn hóa, có thể tham gia trực tiếp vào việc bình giảng, phân tích nét hay, đẹp, tao nhã của ca trù giúp cho người nghe hiểu và cảm thụ được giá trị của cả lời thơ, và giai điệu, cùng với cách biểu diễn của ca nương và kép đàn.

Thứ ba, để nuôi dưỡng ca trù, cần có sự quan tâm và các chính sách của nhà nước, tuy nhiên đó là điều cần thiết quan trọng, chứ nuôi dưỡng ca trù bằng sự quản lý nhà nước thì chắc chắn không đem lại hiệu quả, mà ngược lại sẽ làm ức chế sức sống nội tại của nó. 

Sự đa dạng trong  thể thức và trong sáng tạo
Ca trù, trên thực tế có rất nhiều thể loại trình diễn, theo cách nói trong nghề là “thể cách”. Theo TS. Nguyễn Xuân Diện có nhiều thể thức hát ca trù, chẳng hạn như: Giáo cổ (giáo trống), Thư cách, Hát nam, Thư phòng, Hát giai, Tiến chức, Thăng quan, Nhạc hương, Thét nhạc, Hà nam, Độc phú, Ngâm vọng, Bắc phản, Hát mưỡu, Hát nói, Cung bắc, Dồn đại thạch, Hãm, Dựng, Huỳnh, Bỏ bộ, Dồn dựng…. Sự đa dang về thể cách này thể hiện sự đa dạng của trình diễn, và sự đa dạng của người nghe. Điều này có nghĩa là ca trù sẽ không chỉ có khán giả ở một tầng lớp xã hội mà sẽ từ nhiều tầng lớp khác nhau. Sẽ có các thể thức ca trù khác nhau cho các đối tượng khác nhau về giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, văn hóa, lối sống…

Những hoạt động chạy sô, hay kinh doanh của các ca sỹ, CLB là một thực tế mà ta phải thừa nhận. Xét trên một góc độ nào đó, những hoạt động này cũng có tác dụng quảng bá cho ca trù. Cho dù đó là sự quảng bá đem lại sự hiểu sai lệch về ca trù. Tuy nhiên, trong xã hội luôn tồn tại những người biết thưởng thức, hiểu được giá trị nghệ thuật. Bắt đầu từ những tiếp xúc với ca trù đại trà đó, những người biết thưởng thức chắc chắn sẽ tìm đến với ca trù nghệ thuật cao, nếu loại này có tồn tại. Vấn đề là giống như trong một vườn hoa, rừng hoa đua nở, khoe sắc, thế nào người chơi, người thưởng thức cũng sẽ tôn vinh được vẻ đẹp đích thực mà không sợ rằng những xô bồ sẽ che lấp vẻ đẹp đích thực. Đây chính là ý nghĩa của “ngọc càng mài càng sáng”. 

Đình, quán - không gian thính phòng, và…
Sự đa dang về thể thức ca trù có nghĩa là đa dạng về không gian biểu diễn. Những thể thức khác nhau có những không gian diễn xướng khác nhau. Có lẽ đây chính là một lợi thế để ca trù có thể “sống” trong đời sống đa dạng của xã hội hiện đại.

Giống như các loại hình truyền thống khác, bối cảnh môi trường diễn xướng truyền thống của ca trù đã không còn. Để tồn tại trong thời @, ca trù cần có những không gian diễn xướng theo kiểu @. Ca trù cần tự làm mới mình trong thời hiện đại. Để ca trù có đời sống riêng của nó, hơn thế nữa nó phát triển và tỏa hương thì nó cần mang hơi thở của thời đại. Bởi vì nó đáp ứng nhu cầu của con người hiện đại, với những cảm xúc, cảm nhận hiện đại. Nói như học giả Nguyễn Quảng Tuân “những lời hát phải là nửa cổ và nửa kim. Chứ cứ hát những bài cổ quá thì nó không thích hợp nữa. phải làm sao cho nó có tính thời cuộc”. Nguyễn Quảng Tuân đề xuất hướng cho ca trù: “Phải khuyến khích những người hát, những người đàn, những người cầm chầu. Và khuyến khích những người viết ra những lời hát sao cho nó đúng với nhu cầu của thời cuộc. Với lời mới, điệu cũ, người nghe người ta hiểu được. Chứ em bé 8 tuổi hát Hồng Hồng, Tuyết Tuyết thì nó có hiểu gì đâu. Nó không hợp.”

Người xưa đã sáng tạo ra ca trù. Ca trù đã cống hiến cho đời trải mấy trăm năm. Di sản đó là sức sống cho ca trù hiện tại. Ngày nay để ca trù có đời sống riêng của nó thì nó cần được nuôi dưỡng bằng chính những con người hiện tại, đáp ứng nhu cầu của con người hiện tại. Chính những con người hiện đại sẽ khai thác những thể thức truyền thống và không gian diễn xướng truyền thống để sáng tạo ra ca trù thời hiện đại. Người xưa đã cho ca trù một đời sống, có thăng, có trầm. Chính con người hiện đại sẽ lại tiếp tục nuôi dưỡng, tái hiện ca trù. Ca trù cống hiến cho con người, và con người sẽ sáng tạo ra ca trù theo cách hiện đại. đấy mới chính là ca trù hiện đại. đó mới chính là ca trù đang sống, chứ không phải là ăn mày dĩ vãng.

Ông Nguyễn Quảng Tuân nói: “bây giờ bảo là biểu diễn thu vé là không được. Phải làm sao cho các gia đình khá giả, những người thích văn chương, mời người diễn đến biểu diễn ở tư gia, rồi khách nghe cầm chầu để thưởng thức.”
* * * 

Tự cổ sầu chung kiếp xướng ca
Mênh mông trời đất vẫn không nhà
Người ơi mưa đấy ? Hay sênh phách
Tay yếu gieo lòng xuống chiếu hoa.
Thôi khóc chi ai kiếp đọa đầy
Tỳ bà tâm sự rót nhau say
Thơ ta gửi tặng người ngâm nhé
Cho vút giọng sầu tan bóng mây. 

Bài này thi sĩ Trần Huyền Trân tặng bà Quách Thị Hồ khi bà tròn 30 tuổi. Đó có lẽ là thời hoàng kim của ca trù. Nhưng cũng chính là thời mà ca trù bị chen lẫn với loại “ca ôm”.

Và đó cũng là một nguyên nhân khiến ca trù bị vùi dập. Hy vọng ca trù sẽ trở lại được với sự cao sang, trong trẻo khi mà ca nương tài hoa và khách văn tao nhã cùng cống hiến cho đời những giai điệu nhân văn.
Hà Nội tháng 11/2011
*Bài viết do nhà nghiên cứu Phạm Quỳnh Hương, Viện xã hội học (Viện khoa học xã hội Việt Nam) gửi trực tiếp cho NXD-Blog. Xin chân thành cảm ơn tác giả!

-->đọc tiếp...

TRẦN MẠNH HẢO: NGUYỄN KHUYẾN "NẰM CHUNG VỚI KHÓI MÂY"

Nguyễn Khuyến "nằm chung với khói mây"
Trần Mạnh Hảo

Sách giáo khoa Văn trung học từng dạy học sinh cả nước: “Mấy chùm trước dậu hoa năm ngoái” – Hoa đã nở từ năm ngoái khô đi và còn lại đến bây giờ. Như thế khác nào bảo nhà thơ ngồi ngắm hoa khô. Không, Nguyễn Khuyến ngồi lẫn giữa trăng suông rượu lạt, lẫn trong hoa tươi, tre trúc, rơm rạ, ao chuôm, lẫn trong ếch nhái, đom đóm cùng thuyền thúng, lá thu rơi để trào lộng chua cay thời thế đảo điên, đoạn rút vào thui thủi, lẳng lặng cô đơn, cô độc, đêm đêm tự mài hồn mình thành máu mực đề thơ mà nhớ nước.

Như thể nước lụt Hà Nam đã hóa giặc Lang Sa cuốn đi tất cả, chỉ mình ông sót lại cùng vài người bạn bơ vơ :" Nước non man mác về đâu tá / Bè bạn lơ thơ sót mấy người / Đời loạn đi về như hạc độc / Tuổi già hình dáng tựa mây côi "(Cảm hứng). Có thể nói, Nguyễn Khuyến là bậc đại nho cuối cùng trăn trở tìm mùa thu ở ẩn, là con hạc thi ca cuối cùng của thời đại phong kiến Việt Nam còn giữ được cốt cách và tinh thần hạc vàng Thôi Hiệu, đã một mình lặng lẽ bay qua thế kỷ thứ XIX buồn đau, u uất, đặng tìm chỗ đậu trong 9 năm đầu của thế kỷ thứ XX, rồi đột ngột bay vào hư vô dịp tết âm lịch đầu năm 1909 khi vừa tròn 74 tuổi hạc. Thân phận "hạc độc" của Nguyễn Khuyến quả là cô đơn đến tột cùng, u uất, lủi thủi tới tận cùng thi tứ.

Vòm trời xưa của hoàng hạc thanh cao, tinh khiết là thế, nay diều quạ đen trời si sô đến cướp mất, nên :"Nước non man mác về đâu tá" và hồn thơ chừng cũng mất nẻo đi về. Con hạc này bị thời đại bỏ rơi, tưởng không còn một chỗ đậu trên chính quê hương mình. "Hạc độc" đành hóa đám "mây côi" mà lơ lửng như chính hồn thơ Nguyễn Khuyến còn lửng lơ bao nỗi niềm khôn khuây trên vòm trời văn học Việt Nam thuở nước nhà bị mất vào tay giặc Tây dương.

Chao ôi, hơn một trăm năm trước, cả đám mây trong mắt thi hào cũng phải mồ côi vòm trời, như nhà nho mồ côi vua, dân mồ côi nước. Tinh thần " hạc độc" với " mây côi" bàng bạc, xuyên suốt thời đại và cuộc đời Nguyễn Khuyến, thành một phần tư tưởng, tình cảm thẩm mỹ của hồn thơ ông.

Những bài thơ tả cảnh quê hương Việt Nam hay nhất, đẹp nhất của ông cũng là cốt tả cái hay, cái đẹp của lẻ loi, cô quạnh, se sẽ đẹp, trong veo và xa vắng đẹp đến vô cùng khuất nẻo bơ vơ :"Tiếng sáo vo ve chiều nước vọng / Chiếc thuyền len lỏi bóng trăng trôi". Hồn thơ Nguyễn Khuyến chính là "Tiếng sáo vo ve" bên trời "nước vọng", là "bóng trăng trôi"dưới dòng lũ vô tình cuộn xiết, hóa chiếc thuyền thơ cô độc len lỏi trên thi đàn Việt Nam thuở cơn lụt lội nhân tình thế thái ngập tràn xứ sở.

Ngay trong hai câu thơ hay đến sững sờ tả cảnh đẹp hun hút, đẹp rờn rợn nổi gai ốc của nước lụt Hà Nam này, Nguyễn Khuyến cũng chỉ cốt mượn nước lụt mà gọi hồn nước về trong từ "nước vọng" để : "Sửa sang việc nước cho yên ổn"... Tâm thức "nước", "nước non", "đất nước"... có thể nói là tâm thức chủ đạo của Nguyễn Khuyến trong cả thơ nôm và thơ chữ Hán; tuy ở đây chúng tôi chỉ mới khảo sát qua thơ nôm của ông mà thôi.

Trong bài thơ "Tự trào", Nguyễn Khuyến nói thẳng ra điều cốt lõi nhất, đau đớn nhất của ông là nỗi nhục, nỗi đau vong quốc, thông qua nghĩa đen của cuộc chơi cờ :"Cờ đương giở cuộc không còn nước".Vì "Không còn nước " nên vua cũng không còn thực nữa, chỉ là vua hề, chỉ là quan phường chèo thôi :" Vua chèo còn chẳng ra gì / Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề "( Lời vợ anh phường chèo).

Một vị túc nho lấy trung quân ái quốc làm đầu, phải tự tìm nhọ nồi, muội đèn, tro trấu mà bôi trát lên mặt vua quan thành trò hề như thế, với Nguyễn Khuyến hẳn là nỗi đau lớn nhất trong đời? Vì "Không còn nước" nên sau hơn 12 năm làm quan tới chức Tổng đốc Sơn Tây, lúc vua Tự Đức mất và vua Hàm Nghi ra chiếu cần vương chống Pháp, nhà thơ mượn cớ mắt lòa cáo quan về ẩn dật cùng cà thâm dưa khú.

Ông buồn lặng hóa "mây côi", hóa "hạc độc", hóa thành " hoa năm ngoái", thành "ngỗng nước nào", thành con cuốc gọi hồn nước năm canh, thậm chí hoá thân vào mẹ Mốc, vào gái góa, vào anh giả mù, giả câm giả điếc, thậm chí giả điên kiểu Sở cuồng, làm thơ đả kích giặc và tay sai, như một cách yêu nước kháng Pháp của riêng mình...

Nguyễn Khuyến đau đớn nhận ra hoa nở ngoài giậu thu cũng không còn là hoa hôm nay của mình nữa, ngỗng kêu trên bầu trời quê hương dĩ nhiên là ngỗng nước mình, chứ sao lại là ngỗng nước nào:" Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái / Một tiếng trên không ngỗng nước nào" ?( Thu vịnh). Khi "Không còn nước" nữa thì con ngỗng kia cũng thành vong quốc, vong thân, thành "ngỗng nước nào"thôi. Phải chăng ngỗng ấy cũng là ngỗng từ năm ngoái, ngỗng của mình xưa mà không dám nhận, mà phải đau đớn than là "ngỗng nước nào"? Rằng người không còn giữ được nước thì bay về làm gì ngỗng ơi?

Nhà thơ tủi hổ với cả ngỗng trên trời và hoa dưới đất, muốn làm con cá lặn khuất dưới ao bèo, ngại cả nỗi cắn câu. Đất đã mất thì trời phỏng còn ư, mùa thu phỏng còn ư?

Hoa ấy, ngỗng ấy cũng là Nguyễn Khuyến; như "mây côi" và "hạc độc" kia còn bị vong thân, vong quốc huống nữa là trời đất, con người! 


 Chúng tôi cho rằng, dù viết về phong cảnh mùa thu nông thôn , dù nới rộng đề tài ra từ bản thân mình đến xã hội, từ chim hoa, xóm mạc đến nước non... hồn thơ Nguyễn Khuyến bao giờ cũng toát lên một tinh thần yêu nước sâu xa, yêu nước trong đau đớn, tủi buồn, yêu một cách trầm lắng mà sôi sục, quặn thắt mà quan hoài, trào lộng mà trữ tình, kín đáo mà động vang, cô đơn mà hòa nhập, lạnh lùng mà bỏng cháy, dữ dội mà dịu êm.

Bút pháp nghệ thuật bậc thầy dùng thuỷ nói hỏa, dùng tĩnh tả động, dùng dương tả âm, dùng vật tả tâm, dùng cảnh ngụ tình và ngược lại của Nguyễn Khuyến đã khiến không ít người khi tiếp cận thi ca ông, mới đụng vỏ ngoài đã tưởng thấu vào gan ruột; ví như cách dạy văn rất phi văn học của nền giáo dục phổ thông và đại họcViệt Nam hôm nay hoàn toàn không hiểu nổi hồn thơ Nguyễn Khuyến . Ví như trường hợp ba bài thơ thu của thi hào là bài "Thu vịnh", "Thu điếu", "Thu ẩm" được coi là dấu hiệu thiên tài của nhà thơ nông thôn đệ nhất Việt Nam mà có người, ngay cả khi viết sách giáo khoa cũng chưa thẩm hết hồn thu Nguyễn Khuyến.

Họ nhìn bằng mắt thường nên ngỡ mặt ao thu bình lặng kia là đáy nước, nên bảo nhà thơ viết về mùa thu với tâm trạng thư thái, an nhàn(!) Rằng nhà thơ uống rượu say nhè như anh Chí Phèo say rượu lè nhè vậy...

Không, Nguyễn Khuyến chỉ hớp một tí rượu trong chén hạt mít lấy hứng, chứ không say lè nhè như ai hiểu. Dưới cảnh thu, ngồi nhấp chút rượu thu, câu cá thu, làm thơ thu, nhà thơ chỉ mượn bề mặt tĩnh lặng ao thu mà tả sự động vang sôi sục, quặn thắt, u uẩn, buồn thương nơi thẳm đáy lòng mình , đặng gọi hồn nước đã mất về thương hồn thu hiển hiện.

 Nói theo kiểu Apollinaire, Nguyễn Khuyến chừng cũng cảm thấy hồn thu đã chết, đã bỏ đi đâu như hoa kia ngỗng nọ, chỉ còn thân xác thu trong veo, cô quạnh, vắng ngắt, bàng bạc như con ve mùa hè nằm chết trong mùa thu sau khi đã hát rỗng cả ruột gan.

Tả lửa song Nguyễn Khuyến vẽ khói, tả nước mà nói thu, tả nỗi thẹn mình, tủi lây sang thu mà phải mượn tới ông Đào Tiềm đời Tấn. Cũng có thể gọi ba bài thơ thu của ông là tiếng chiêu hồn thu, chiêu hồn nước. Ngồi thưởng thu không chút thư nhàn, đau xót quá, cảm thương nước mất mà sao thu vẫn rưng rưng tìm về, nên nhà thơ không đừng lòng được, đành rơm rớm khóc :" Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe"? Đừng đổ oan cho Nguyễn Khuyến "mắt đỏ hoe" vì say rượu. Mùa thu trong ba bài thơ đẹp đến lạnh ngắt, đẹp đến tột cùng cô đơn, u tịch, phải chăng vì mùa thu chưa chiêu được hồn "hoa năm ngoái", chưa gọi được vía " ngỗng nước nào"...?

Cám cảnh thay nỗi " Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được" của nhà thơ; như thể ông là tù binh của cần câu, là tù binh của chính hồn mình đang ở đâu đâu trong trời đất mang mang thiên cổ lụy? Nguyễn Khuyến yêu nước lắm, thương nòi lắm, đau đớn nỗi đời quay quắt lắm, đành giấu kín tình yêu nước vào cảnh thu, ao thu, rượu thu như cá giấu dưới ao bèo. Thi thoảng, ta nghe một tiếng "Cá đâu đớp động dưới chân bèo", như nhà thơ ngầm an ủi mình rằng còn cá tức nhiên còn nước...

Vì vậy, Nguyễn Khuyến rút ruột hóa thân vào hồn Thục Đế xưa, thành con cuốc gọi hồn nước nay đến chảy máu cả đêm hè :" Năm canh máu chảy đêm hè vắng / Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ / Có phải tiếc xuân mà đứng gọi / Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ " ( Cuốc kêu cảm hứng ). Thương thay cho "Ngỗng nước nào" vẫn không chịu bay đi, còn kêu xé trời cao trong thảng thốt nỗi niềm dù mùa thu đã chết. Con ngỗng vong thân, gãy cánh, đáp xuống trang thơ mà hóa thành con cuốc Việt Nam chiêu hồn nước tới bây giờ. Bài thơ "Cuốc kêu cảm hứng" thật hay, thật đoạn trường, đọc xong muốn khóc.

Chúng ta thương và kính trọng Nguyễn Khuyến vô cùng. Ông đã nén cả một nhân cánh lớn, một hồn thơ lớn, một tri thức lớn, một nỗi đau lớn vào tiếng cuốc nhớ nước thảm thiết làm chảy máu cả tâm can người đọc hôm nay.Tinh thần hoài cổ, tinh thần "Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ " len lỏi vào mọi tâm sự, mọi vui buồn, thương giận, nhớ nhung của nhà thơ. Ngay cả khi vịnh ông phỗng đá với ngụ ý diễu mình, nhà thơ vẫn xót xa hỏi :" Non nước đầy vơi có biết không ?"Chính vì nỗi "non nước" khôn nguôi này làm ông tủi hổ, làm như lỗi tại mình mà nước mất nhà tan, nên mượn thơ mà cả thẹn :" Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già / Xuân về ngày loạn càng lơ láo ".

Một người tài cao, học rộng, thương xót, nương nhẹ từng cọng cỏ nhành hoa, một nhân cách lớn, khiêm cung tự tại, lại phải đưa mình ra mà diễu, mà tự cười cợt, bông phèng mình thì hẳn là phải đau đớn lắm, khổ tâm lắm :"Mở miệng nói ra gàn bát sách / Mềm môi chén mãi tít cung thang / Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ " hoặc :" Lúc hứng uống thêm dăm chén rượu / Khi buồn ngâm láo một câu thơ ". Một người thính nhạy như Nguyễn Khuyến từng biết nghe bằng hồn, bằng vía, chán nỗi đời đục mà giữ mình trong, đành ngụ mình, nương mình làm "Anh giả điếc ":" Trong thiên hạ có anh giả điếc / Khéo ngơ ngơ ngác ngác ngỡ là ngây" ...." Sáng một chốc lâu lâu rồi lại điếc".

Phải giả mù, giả câm, giả điếc để sống, mà vẫn sống được trong xã hội nhố nhăng nửa thực dân phong kiến thối nát, đảo điên kia, mới thương cho Nguyễn Khuyến phải ra tuồng trong chính thân phận mình:"Mua vui lắm lúc cười cười gượng / Giả dại nhiều khi nói nói bông". Ngẫm xưa mà ngán cho hôm nay, thiên hạ đang phấn khởi nhập bao nhiêu  vai tuồng, vai hề mua vui cho kẻ quyền quý kiếm chút cơm thừa canh cặn, vẫn không biết liêm sỉ ngượng ngùng, lại cứ dương dương tự đắc với vai hề văn nghệ múa may ?

Mượn sự điên dại của " Mẹ Mốc" tỏ bày tâm sự, Nguyễn Khuyến như tự xé quần áo tinh thần mình để phơi bày "hình hài gấm vóc" ra mà che mắt thế gian, những mong yên ổn :"Tấm hồng nhan đem bôi lấm xóa nhòa / Làm thế để cho qua mắt tục ". Mẹ Mốc ấy là tâm hồn vằng vặc muôn sau của Nguyễn Khuyến, sống trong thế giới của những "Đĩ cầu Nôm", "Tiến sĩ giấy", "Hội Tây"...vẫn không chút bợn nhơ :" Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết / Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhơ "...

Nhà thơ vô cùng căm ghét bọn cướp nước và bán nước. Ông dùng tài thơ trào phúng vừa hóm, sâu, vừa cay độc đến tận cùng mà váy hóa lá cờ tam tài của giặc trong tiếng cười thâm thuý :" Ba vuông phất phới cờ bay dọc / Một bức tung hoành váy xắn ngang". Hóa ra cái váy con đĩ của thời :" Vợ bợm, chồng quan, danh phận đó" đã được kéo lên thành cờ "ba vuông" phất phới, ngang dọc, làm bình phong che mặt tham quan ô lại đục nước béo cò.

Nguyễn Khuyến mang vũ khí trào lộng vạch mặt chúng bằng tiếng cười cay độc :" Có tiền việc ấy mà xong nhỉ / Đời trước làm quan cũng thế a ?" Phải sống trong thời " Đĩ mà có tàn, có tán, có hương án, có bàn độc " làm sao Nguyễn Khuyến không thẹn thùng, tủi hổ, xót xa cả hồn thơ, đành than trời :" Thử xem trời mãi thế này ư ?". Tìm mùa thu ẩn mình không yên ổn, núp vào mình cũng không xong, nhà thơ đôi khi phải trốn vào giấc mơ mà chơi trò đánh bùn sang ao bản thể, mà lẫn lộn bóng mình với bóng người, lấy hư làm thực bằng một câu thơ tuyệt hay, rất hiện đại :" Bóng người ta nghĩ bóng ta / Bóng ta, ta nghĩ hóa ra bóng người"( Bóng đè cô đầu).

Thơ nôm Nguyễn Khuyến hay cả ở thần lẫn ở thái, ở hình lẫn ở thể, ở hồn chữ dân gian, gợi cảm, mới lạ, hiếm thấy ví như :" Quyên đã gọi hè quang quác quác / Gà từng gáy sáng tẻ tè te ...Đôi gót phong trần vẫn khỏe khoe ", " Bán buôn gió chị với trăng dì"...Nguyễn Khuyến quả là thánh chữ khi dùng động từ "thập thò " trong câu thơ thần tình sau :"Một khóm thuỷ tiên dăm bảy cụm / Xanh xanh như sắp thập thò hoa".

 Câu thơ "sắp thập thò hoa" này mang đặc trưng nhất của phong cách Nguyễn Khuyến.

Từ đây, ta có thể thấy thi pháp " thập thò hoa" là thi pháp độc đáo kỳ khu của thơ ông: thập thò giữa tình và cảnh, giữa vật và tâm, âm và điệu, cảm và thức, thập thò giữa thực và hư... kiểu "hoa năm ngoái" và "ngỗng nước nào"... Nguyễn Khuyến mượn cảnh đẹp nông thôn mà yêu nước Việt, một tình yêu buồn thương u uất được thể hiện bằng nghệ thuật trữ tình trào phúng của thơ bậc thầy. Ông chính là ngọn Đọi sơn của thi ca Việt Nam, nơi nhà thơ từng viết: " Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá / Sư cụ nằm chung với khói mây".

Không, chính là hồn thơ Nguyễn Khuyến vẫn "nằm chung với khói mây" trên đỉnh trời thi ca dân tộc. Thắp nén hương ngày tết tưởng nhớ lần giỗ thứ hơn trăm của Nguyễn Khuyến, cũng là dịp cho ta đọc lại câu thơ hay nhất của thi hào mà giật mình trước tấm lòng trắc ẩn và tư tưởng sâu sắc của tiền nhân, đã có nhã ý mượn tóc gió mà dối lại cho đời sau câu hỏi nhức nhói khôn cùng của triết học nhân sinh :"Ngọn gió không nhường tóc bạc a ?".

 Vâng, ngọn gió thời gian, ngọn gió của quy luật muôn đời không nhường tóc bạc thời đại Nguyễn Khuyến đã đành; mà kể cả thời đại chúng ta, nó cũng không biết nhường ai cả. Dù là tóc bạc của thi ca, của thiên tài đi chăng nữa gió cũng chẳng nhường đâu; huống gì những nhí nhố thời cuộc đang băm bổ hô hét muôn năm rồi cũng bị cuốn theo chiều gió, sẽ tan biến đi như chưa hề tồn tại .,.

T.M.H
*Bài do nhà thơ Trần Mạnh Hảo gửi trực tiếp cho NXD-Blog. 
Chúng tôi có biên tập bỏ đi vài chữ, mong tác giả lượng thứ. Xin chân thành cảm ơn!
-->đọc tiếp...

Thư giãn cuối tuần: KỸ NĂNG GIẬT TÍT CỦA BÁO CHÍ

KỸ NĂNG GIẬT TÍT CỦA BÁO CHÍ

Thư giãn cuối tuần - Trong Ngày hội của các Phóng viên, Biên tập viên Báo chí, Ban Tổ chức nảy ra sáng kiến tổ chức cuộc thi để tìm ra "Thần tượng phóng tin Việt Nam Idol".

Chủ điểm đưa ra là cách thi triển công phu phóng tin, với đầu bài cụ thể: "Từ vụ trọng án trong Văn học xưa: Chí Phèo đâm chết Bá Kiến"...

Hàng loạt các anh tài từ rất nhiều cơ quan Báo chí lớn, có truyền thống đã hồ hởi tranh tài với đúng những sở trường mà mình đang có. Dưới đây là bản tổng hợp kết quả:

1. Chuyện anh Chí đâm chết Bá Kiến, có thể "thi triển" các tựa đề:

 - Kinh hoàng vụ sát hại Trưởng thôn Vũ Đại

- Say rượu, đâm chết cán bộ thôn

- Đã tìm được kẻ giết Trưởng thôn làng Vũ Đại

- Bi kịch làng Vũ Đại: Trưởng thôn bị giết tại nhà

- Kẻ giết Trưởng thôn Bá Kiến là người cùng làng

- Nghi phạm giết Trưởng thôn đã có tiền án

- Trưởng Công an làng Vũ Đại: Chúng tôi đang tiếp tục điều tra. 

2. Sau đó, có thể khai thác chuyện anh Chí với chị Nở trong vườn chuối:

- Sốc với hình ảnh giới trẻ công khai tình yêu trong vườn chuối

- Có hay không vụ hiếp dâm trong vườn chuối

- Vừa ra tù, đã phạm tội hiếp dâm

- Đau lòng người đàn bà dở bị cưỡng bức

- Chân dung kẻ đồi bại tại làng Vũ Đại

- Đã xác định được kẻ hiếp dâm chị N.

- Vụ lạm dụng tình dục ở làng Vũ đại – Công an thôn vào cuộc

3. Tiếp tới, chuyển ngay sang các nội dung:

- Phát sốt vì bộ ảnh cực "nóng" của Thị Nở

- Bé Nở "lạ lẫm" trong trang phục tứ thân

- Thị Nở vai trần đi vo gạo

- Thị Nở thổ lộ về mối tình đầu

- Thị Nở e ấp bên người "đặc biệt"

- Thị Nở hot với yếm đào bên bờ sông

- Thị Nở: Anh ấy không phải là đại gia

- Thị Nở: Giữa tôi và anh Chí chỉ là mối quan hệ cùng thôn

- Thị Nở: Còn quá sớm để nói về chuyện yêu

- Lộ ảnh sốc Chí Phèo & Thị Nở trên Facebook

- Chí Phèo: Tôi chỉ coi em Nở như em gái

- Những bóng hồng trong cuộc đời anh Chí

- Rộ tin đồn Bá Kiến là người thứ 3

- Dàn sao nông dân "kute" làng Vũ Đại cùng chúc mừng cho bé Nở

- Xôn xao đoạn ghi âm đêm hẹn hò của chị Nở và anh Chí tại vườn chuối

- Chí Phèo & Thị Nở: đẳng cấp chuyện tình Titanic

4. Nếu "có tầm nhìn" thì đi ngang sang các đề tài:

- Cảnh tỉnh về lối sống buông thả của 1 bộ phận thanh niên nông thôn

- Nói về vấn nạn lạm dụng tình dục ở nông thôn

- Có hay không việc cần thiết đưa giáo dục giới tính về nông thôn

- Tình trạng thất nghiệp ở nông thôn và các hệ lụy xã hội

5. Hoặc xoáy sang các chủ đề hút khách:

- Rượu, cháo hành (không thịt) và câu chuyện an toàn tình dục

- Rượu và chuối xanh: Thần dược của tình yêu !

- Cháo hành có phải là phương pháp phục hồi hữu hiệu sau khi làm chuyện ấy?

6. Và cuối cùng là "vét máng":

- Làng Vũ Đại ngày ấy và bây giờ

- Lật lại Hồ sơ vụ án Chí giết Kiến

- Những chuyện chưa kể về anh Chí Phèo

- Lương y Phạm Thị Hồng nghi ngờ Chí "còn nguyên": Có hay không chuyện tình Vườn chuối?..
 
Nguồn: Mai Thanh Hải-Blog.
-->đọc tiếp...

THƯ NGỎ GỬI TOÀN THỂ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XIII


Thư gửi nhờ chú Diện chuyển giúp đến ĐBQH Dương Trung Quốc và toàn thể ĐBQH khóa XIII
Thưa chú Diện, hôm nay cháu lại xin phép làm phiền chú thêm 1 lần nữa để nhờ chú chuyển giúp cháu Thư Ngỏ này đến toàn thể các đại biểu Quốc hội khóa XIII, đặc biệt là đến tận tay đại biểu Dương Trung Quốc. Bản lưu trữ trên blog, xin chú vẫn để tên cháu là Một Người Việt Nam.
Cháu xin cảm ơn chú Diện thật nhiều.
Thưa đại biểu Quốc hội khóa XIII Dương Trung Quốc, cháu là 1 công dân Việt Nam quan tâm sâu sắc đến dự án Luật Biểu Tình mà Quốc hội đang tranh luận tại các phiên họp vừa rồi. Hôm nay, cháu gửi bức thư ngỏ này, là để trình bày toàn bộ suy nghĩ, nhận thức và ý muốn của mình đối với dự thảo Luật nêu trên để Quốc Hội được nghe kỹ và rõ hơn nguyện vọng của một công dân. Sở dĩ cháu viết bức thư ngỏ này, là vì bức xúc gay gắt với những phát biểu của đại biểu Hoàng Hữu Phước và một số đại biểu a dua theo phát biểu đó. Cháu gửi thư này đến bác, vì tin rằng bác thực sự là một đại biểu Quốc Hội tâm huyết và điều quan trọng nhất là biết lắng nghe nguyện vọng của nhân dân mà đại biểu Hoàng Hữu Phước không có được. Cháu dùng quyền công dân của mình để hi vọng và tin tưởng những ý kiến này sẽ được bác nêu ra trước Quốc Hội trong các phiên họp tiếp theo nhằm làm rõ nhu cầu cần thiết của việc xây dựng Luật Biểu Tình trên quan điểm của một công dân hòng đáp ứng nguyện vọng và yêu cầu chính đáng của người dân Việt Nam cũng như góp phần tích cực vào việc quản lý xã hội một cách hợp lý, hợp tình và hiệu quả hơn.
Vì không có nhiều thông tin về bác cũng như điều kiện không thuận lợi để trao tận tay bác thư này, nên cháu xin mạn phép chuyển nó đến bác thông qua sự giúp đỡ của Ts Nguyễn Xuân Diện là một người đủ tư cách để gửi đến bác trọn vẹn sự tôn trọng đúng mực từ cháu.
Thưa bác, dù là trong phiên họp vừa qua, Quốc Hội chỉ có một mình bác đứng lên thể hiện quan điểm đòi hỏi xây dựng Luật Biểu Tình, nhưng xin bác hãy tin rằng đó là nguyện vọng của nhân dân và chắc chắn nhân dân sẽ không để bác phải cô độc một mình.
Cháu xin chân thành cảm ơn bác và xin kính chúc bác sức khỏe, nghị lực, quyết tâm để giữ vững lý tưởng là một người đại diện xứng đáng của nhân dân và để xây dựng đất nước ta ngày càng tốt đẹp, vững mạnh hơn.
Cháu
__________________
THƯ NGỎ GỬI TOÀN THỂ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XIII
NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM

Kính thưa toàn thể ĐBQH khóa XIII nước CHXHCN Việt Nam,

Tôi là một công dân Việt Nam đã từng tham gia biểu tình phản đối thái độ bành trướng và hành vi xâm lược chủ quyền biển đảo Việt Nam của Trung Quốc vào ngày 05 tháng 06, 2011 và 12 tháng 06, 2011 vừa qua tại Sài Gòn, quan tâm sâu sắc đến một số vấn đề hiện tình đất nước và đặc biệt là vấn đề mà tôi sẽ đề cập trong thư này, là dự thảo về Luật Biểu Tình đang được đệ trình và thảo luận trước Quốc Hội trong các phiên họp vừa qua.

Tôi là người ủng hộ chủ trương xây dựng Luật Biểu Tình vì thế tôi hoàn toàn đồng quan điểm với đại biểu Dương Trung Quốc và vô cùng bức xúc trước phát biểu của đại biểu Hoàng Hữu Phước cũng như những ý kiến đồng dạng của hai đại biểu Trương Trọng Nghĩa và Nguyễn Thanh Tùng. Tôi xin trình bày quan điểm của mình về dự án Luật này như sau:

-    Với tôi, Luật Biểu Tình là cực kỳ cần thiết và bức thiết. Vì lẽ, việc tự do biểu lộ tình cảm, chính kiến một cách ôn hòa, trật tự là quyền của công dân trong mọi quốc gia văn minh và việc quản lý tốt diễn biến của những cuộc biểu tình như thế thuộc về trách nhiệm của nhà nước. Cần nhìn nhận nghiêm túc rằng, Luật Biểu Tình là những định chế, những giới hạn cho phép để không chỉ giúp công dân thực hiện quyền lợi chính đáng của mình mà còn góp phần rất tích cực vào khả năng quản lý xã hội của nhà nước. Luật Biểu Tình không được xây dựng để tạo ra những cuộc biểu tình bát nháo, hỗn loạn và vô trật tự mà là nó hợp thức hóa và đề ra chuẩn mực cũng như giới hạn cho việc biểu tình nhằm hạn chế tối đa những yếu tố tiêu cực và nguy hiểm chưa lường trước được. Không có Luật Biểu Tình thì nhà nước cũng không thể cấm người dân biểu tình, nhưng như thế khoảng cách giữa nhân dân và nhà nước sẽ ngày càng xa hơn và những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân sẽ khó mà được nghiêm túc lắng nghe, tiếp thu và đáp lại. Chưa kể, vì không có Luật dẫn đến sự lúng túng trong quản lý khiến phát sinh nhiều hành vi tiêu cực trong việc xử lý trấn áp càng làm gia tăng thêm những bức xúc sẵn có của quần chúng đồng thời đẩy khoảng cách giữa nhà nước và nhân dân ngày càng cách xa nhau. Đó là yếu tố vô cùng nguy hiểm cho sự bền vững của một nhà nước, gây ảnh hưởng xấu rất lớn đến lòng tin và sự thống nhất đồng lòng giữa nhân dân và chính phủ. Vì thế, Luật Biểu Tình thực chất là hỗ trợ cho nhà nước nhiều hơn là cho nhân dân. Việc mong muốn và yêu cầu có Luật Biểu Tình là hành động tích cực để giúp nhà nước quản lý xã hội một cách nhẹ nhàng, thân thiện hơn đồng thời người dân được đảm bảo quyền lợi và bảo vệ tính mạng để can đảm bày tỏ những nguyện vọng chính đáng của mình ôn hòa, trật tự và nhã nhặn.

-   Quyền biểu tình của nhân dân là điều đã được khẳng định trong Hiến Pháp, tức là dù chưa có Luật, nhưng nó đã được công nhận, đồng nghĩa rằng nhân dân được quyền biểu tình vì điều đó không bị cấm. Luật Biểu Tình chỉ là để giúp nhà nước và nhân dân cùng quản lý cho tốt quyền đương nhiên ấy nhằm tránh phát sinh những tiêu cực. Cần nhớ rằng, chính thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đề ra ý định soạn thảo Luật Biểu Tình và giao cho Bộ Công An thực hiện, tức là Luật này sẽ được soạn thảo ra từ những người quản lý việc biểu tình chứ không phải từ những người đòi hỏi biểu tình, cho nên không thể nói Luật này sẽ không phù hợp và không có lợi cho nhà nước. Và tôi khẳng định rằng, những công dân thấy cần thiết phải có Luật Biểu Tình là những công dân thực sự ý thức tôn trọng nhà nước và Pháp Luật cũng như mong muốn rằng việc bày tỏ chính kiến, thái độ của mình phù hợp với sự quản lý của chính quyền và tránh gây khó khăn, căng thẳng cho cơ quan hành pháp dẫn đến những đối đầu không đáng có. Đó là một ý thức tốt đẹp và chính đáng.

-    Đại biểu Hoàng Hữu Phước chỉ nhìn duy nhất khía cạnh tiêu cực nhất của việc biểu tình từ một phía mà dám phát biểu lớn lối như vậy là xúc phạm nhân dân. Lương bổng của một đại biểu Quốc Hội nước ta thì chắc không cao, nhưng đại biểu Hoàng Hữu Phước cần ý thức sâu sắc rằng, những đồng tiền mà ông sẽ nhận ấy, là một phần mồ hôi, nước mắt của nhân dân, là máu xương của những người đã chiến đấu và hi sinh vì tổ quốc. Mong rằng ông ghi nhớ. Hôm nay, với tư cách là một công dân nước CHXHCN Việt Nam, tôi thẳng thắn phê bình đại biểu Hoàng Hữu Phước là thiếu ý thức trách nhiệm và nông cạn. Nếu ông không thay đổi, thì tôi – một công dân - không cần một người đại diện cho mình như thế. Vì với một ý thức hệ tiêu cực và cực đoan như vậy cộng với sự thiếu sáng suốt khi nhìn nhận diễn biến và bản chất của các vấn đề (những luận điểm mà ông đã đưa ra để phản bác dự thảo Luật Biểu Tình trong phát biểu của mình) tôi không nghĩ rằng ông sẽ đủ trình độ và tư cách đại diện cho nhân dân cũng như tham gia cùng chính phủ điều khiển lèo lái con tàu đất nước.

-    Biểu tình là hành động dùng lực lượng số đông nhằm tạo sức mạnh cho những yêu cầu, thái độ, chính kiến, nguyện vọng của một khối quần chúng có cùng suy nghĩ nhằm thu hút sự chú ý và thúc đẩy quan tâm của nhà nước nhờ giá trị quy mô đông đảo đánh vào yếu tố nhận thức, tinh thần. Nó là một hành động tích cực và thiện chí và cũng là phương tiện hữu hiệu để công dân đối thoại với nhà nước, với lãnh đạo khi mà những tiếng nói riêng lẻ bị phớt lờ, bỏ ngoài tai. Thời đại văn minh này không cho phép những cuộc biểu tình với vũ trang và bạo động nhằm phá hoại những giá trị hiện hữu, nhưng mọi con người cần phải được quyền cất lên tiếng nói của mình và cần được Pháp Luật bảo vệ quyền căn bản đó.
.
-    Luật Biểu Tình sẽ thiết lập những chuẩn mực, giới hạn để những biểu lộ thái độ, tình cảm, nhu cầu của quần chúng không đi quá mức độ cho phép đảm bảo sự ổn định và trị an. Cũng như sẽ là những giao ước để nhà nước quản lý các cuộc tụ tập biểu tình nơi công cộng nhằm tránh khỏi những tác động bất ngờ hoặc có chủ đích không mong muốn. Cá nhân tôi không bao giờ cho rằng một sự việc thiếu quản lý nào lại có thể diễn biến tốt đẹp hơn là khi nó được chuẩn bị đầy đủ về phương tiện vật chất lẫn tinh thần. Và đó là sự thiết yếu cần thiết của xây dựng Luật.

-    Chúng ta cũng cần nhớ rằng, chính phủ là cơ quan lãnh đạo, quản lý nhà nước và quốc gia, nhưng điều đó không có nghĩa là chính phủ luôn luôn đúng. Vậy thì, khi chính phủ đưa ra một quyết sách không phù hợp thì nhân dân phải tuân thủ nhưng ức chế và âm thầm chống đối, phản kháng sẽ tốt hơn hay là nhân dân bày tỏ nguyện vọng của mình để chính phủ điều chỉnh chính sách cho phù hợp thì tốt đẹp hơn? Ai cũng sẽ có lúc sai lầm và chỉ có những người biết lắng nghe, biết nhận lỗi và sửa đổi mới là người được tôn trọng và tin tưởng. Điều cần thiết nhất của một chính phủ yêu nhân dân, đất nước mình. Không ai lại có một cái tai và hai cái miệng, tức là người ta cần phải biết lắng nghe nhiều hơn là nói, những người đại diện cho người khác, những người sử dụng tư cách đại diện cho người khác thì lại càng phải cần lắng nghe kỹ càng hơn, nghiêm túc hơn những tiếng nói đã lựa chọn mình. Đại biểu Hoàng Hữu Phước đã bịt hai tai, lại dùng tư cách đại diện cho người khác để áp đặt nhận thức của cá nhân, đương nhiên không thể nói đó là một hành động phục vụ quyền lợi của nhân dân được. Xin cảm ơn đại biểu Dương Trung Quốc đã có một lời đáp trả thích đáng trước hành vi đó: "Tại diễn đàn Quốc hội, chúng ta hãy nhân danh cá nhân mình thôi, trừ khi chúng ta có sự ủy nhiệm, hoặc có điều tra định lượng để nói rằng người dân phản đối, người dân băn khoăn trước định lượng đó, nó dẫn đến tiêu cực xã hội", câu nói này là điều mà tôi hài lòng và mong muốn. Còn ông Hoàng Hữu Phước là đại biểu của nhân dân nhưng lại bảo vệ mù quáng cho chế độ chính trị là không đúng chức năng và vô trách nhiệm. Gọi là bảo vệ mù quáng vì thực chất nó phản tác dụng, nó tạo ra những nhận thức không tốt từ nhân dân dành cho nhà nước đồng thời làm suy giảm luôn uy tín của chính phủ, một điều cực kỳ nghiêm trọng trong quản lý quốc gia.

-    Biểu tình sẽ chỉ dẫn đến chống chính phủ như đại biểu Hoàng Hữu Phước nói, khi mà quá nhiều nguyện vọng chính đáng của quần chúng bị gạt bỏ đồng thời chính phủ không có thiện chí cải thiện tình hình mà thôi. Thưa đại biểu Hoàng Hữu Phước, phải chăng ông muốn nói chính phủ Việt Nam hiện nay là như vậy nên ông mới quan ngại và kịch liệt phản đối Luật Biểu Tình?

-    Trong thời buổi khó khăn kinh tế này, không có ai đủ thời giờ rảnh rỗi để hở cái gì ra cũng biểu tình, chỉ khi bức thiết lắm, cần kíp lắm, ức chế lắm, dầu sôi lửa bỏng lắm hay vui mừng lắm, yêu thương lắm thì người ta mới phải dành dụm thời gian mà thể hiện thái độ, tình cảm của mình với nhau, tôi không hiểu vì lý do gì đại biểu Hoàng Hữu Phước lại lo sợ biểu tình sẽ gây ra rối loạn đến như vậy. Cho dù hiện tình chính trị Việt Nam có phức tạp thế nào, ông cũng cần phải hiểu rằng xã hội vẫn luôn còn những con người đủ sáng suốt và thiện chí chứ. Và chính phủ nên tôn trọng, lắng nghe và chăm lo cho họ. Còn nếu như nhìn đâu cũng chỉ thấy người xấu, kẻ ác và tiêu cực, thì còn gì là một đất nước, một quốc gia. Nếu đại biểu lo lắng rằng nhân dân dễ bị kích động, xúi giục bởi những mưu đồ chính trị đen tối, thì nhiệm vụ nằm ở những chính sách quản lý xã hội, tuyên truyền vận động, giáo dục nhận thức, chứng minh thực tiễn, xây dựng các Bộ Luật chi tiết, đầy đủ, sâu sát, thực tế, kỹ lưỡng, nghiêm chỉnh, rõ ràng hơn chứ không phải là dẹp bỏ Luật Biểu Tình.

-    Một điều cần lưu ý là không phải nếu không có luật biểu tình thì dân sẽ không dám biểu tình, mà ngược lại, việc tức nước vỡ bờ sẽ càng nguy hiểm và dễ lâm vào trạng thái tiêu cực hơn nữa, tức là tổn hại cho toàn xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến vận mệnh quốc gia. Còn nếu nói như đại biểu Hoàng Hữu Phước là mục tiêu của biểu tình là bạo động và lật đổ thì tôi xin nói thẳng rằng nhận thức ấy ấu trĩ và nông cạn. Bởi lẽ, nếu một khi đã lâm đến hiện trạng bất tuân dân sự tạo thành bạo động, thì không còn chỗ cho sự hiện diện của Luật Pháp nữa, nghĩa là có hay không có Luật Biểu Tình cũng vậy mà thôi. Chính vì vậy, tôi mong muốn Quốc Hội suy nghĩ về những thành ý tốt đẹp của chúng tôi, để xây dựng Luật Biểu Tình nhằm hợp pháp hóa quyền lợi chính đáng của nhân dân cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan hành pháp thực thi quản lý.

-    “Câu hỏi được đặt ra ở đây là dự án Luật biểu tình đã tham vấn ý kiến, nguyện vọng của cử tri, công dân là người cao tuổi, cựu kháng chiến, cựu chiến binh, anh hùng các lực lượng vũ trang, anh hùng lao động, tập thể nông dân, tập thể quân đội, công an, những chiến sỹ biên phòng đang trấn giữ biên cương của tổ quốc và hải đảo quốc gia, những nhà tu hành chân chính hay chỉ vì một nhóm nhỏ vài chục, vài trăm sinh viên, học sinh, những người chưa là những công dân có thu nhập, có việc làm”. Thưa đại biểu Hoàng Hữu Phước, và để trả lời cho viện chứng hết sức ngớ ngẩn của ông, tôi xin nói rõ một điều rằng: Tôi là một công dân Việt Nam, năm nay hai mươi sáu tuổi, đã tự đi làm để nuôi bản thân mình và góp phần xây dựng xã hội. Tôi ủng hộ và mong muốn xây dựng Luật Biểu Tình. Sau này, khi phát ngôn những điều tương tự, xin ông hãy dùng tư cách cá nhân.

Kính thưa Quốc Hội,

Những yếu tố tích cực của việc biểu tình cũng như sự thiết yếu cần có một Luật Biểu Tình trong bối cảnh hiện nay thì đại biểu Dương Trung Quốc đã phân tích khá đầy đủ nên cũng không cần phải bổ sung thêm. Tôi chỉ xin nhấn mạnh một điều rằng, việc xây dựng một bộ Luật nhằm quản lý việc biểu tình cũng là một hành động tích cực để củng cố dân chủ, đáp ứng xu hướng vận động và phát triển của thế giới cũng như thực hiện mong ước của các vị lãnh đạo nước ta. Khi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, rồi tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và chủ tịch nước Trương Tấn Sang lên nhậm chức đều đã thể hiện khát vọng mở rộng tự do dân chủ, xây dựng một nền dân chủ pháp trị có thực chất, thanh lọc bộ máy nhà nước nhằm thể hiện quyền làm chủ thực sự của nhân dân. Tuy nhiên, cho đến nay, vì nhiều lý do chủ quan lẫn khách quan, công khai cũng như bí mật, nội tại cũng như tác động từ các nước bên ngoài, những khó khăn do bối cảnh chung và tình thế riêng… những khát vọng đó của các vị lãnh đạo vẫn chưa có được bước tiến quan trọng và đột phá nào. Lần này, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có một động thái tích cực và rất đáng hoan nghênh đó là đề xuất dự thảo xây dựng Luật Biểu Tình, một bước tiến khá lớn trong thực thi dân chủ.Vì vậy, là một công dân, tôi mong muốn Quốc Hội – cơ quan đại diện cho mình – hãy giúp các vị lãnh đạo thực hiện tốt hơn khát vọng nói trên. Lòng dân là sự bền vững của chế độ và là sự ổn định của quốc gia. Với những nhận định đã nêu, tôi thấy việc xây dựng Luật Biểu Tình ngay bây giờ là hợp lý và cần thiết. Xin kính trình Quốc Hội.

Tôi xin kính chúc toàn thể các đại biểu Quốc Hội sức khỏe, minh mẫn, tỉnh táo, sáng suốt và nhiệt huyết để xây dựng đất nước ta bền vững, trường tồn.

Sài Gòn, 18 tháng 11 năm 2011
Kính thư
Một người Việt Nam
__________________

Bổ sung lúc 19h20, ngày 19.11.2011:
Lời tạ lỗi với Đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa

Kính thưa đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa,
Kính thưa đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc,
Kính thưa chú Nguyễn Xuân Diện,
Kính thưa toàn thể bạn đọc theo dõi blog Nguyễn Xuân Diện,

Trong bức Thư Ngỏ gửi đại biểu Dương Trung Quốc và toàn thể đại biểu Quốc hội khóa XIII vừa qua mà cháu đã gửi nhờ chú Nguyễn Xuân Diện trao tận tay đại biểu Dương Trung Quốc đã có 1 sự nhầm lẫn.

Đó là căn cứ theo thông tin ban đầu từ báo Vneconnomy http://vneconomy.vn/20111117025218325P0C9920/tranh-luan-gay-gat-du-an-luat-bieu-tinh.htm cháu đã nhầm tên vị đại biểu quốc hội đồng tình với ý kiến của đại biểu Hoàng Hữu Phước. Theo tin từ báo này thì đại biểu đó là đại biểu Trương Trọng Nghĩa. Nhưng thông tin sau đó từ báo Tuổi Trẻ http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/465571/Chua-can-Luat-bieu-tinh-vi-dan-tri-thap.html, báo SGGP http://www.sggp.org.vn/phapluat/2011/11/273672/ và từ bạn bè thì đó là không chính xác. Sau khi kiểm chứng, cháu xin chính thức thừa nhận sai sót, xin đính chính và vô cùng xin lỗi đại biểu Trương Trọng Nghĩa, chú Nguyễn Xuân Diện, đại biểu Dương Trung Quốc và toàn thể bạn đọc đã đọc bản lưu trữ của bức thư ngỏ trên tại blog Nguyễn Xuân Diện.

Thông tin đính chính như sau: Người đã đồng tình và ủng hộ ý kiến của đại biểu Hoàng Hữu Phước là đại biểu Đặng Ngọc Nghĩa chứ không phải là đại biểu Trương Trọng Nghĩa.

Đối với riêng đại biểu Trương Trọng Nghĩa, cháu xin dập đầu tạ lỗi vì đã nhầm lẫn dẫn đến việc vô tình xúc phạm danh dự của bác. Cháu mong nhận được sự tha thứ và không chấp của bác. Cháu thành thật xin lỗi và xin chân thành cảm ơn.

Cháu xin nhờ chú Nguyễn Xuân Diện, nếu chưa trao thư ngỏ cho đại biểu Dương Trung Quốc, thì xin đính chính lại giúp cháu, cụ thể là sửa cụm từ Trương Trọng Nghĩa lại thành Đặng Ngọc Nghĩa, đồng thời gửi kèm cháu bản thư tạ lỗi này đến trực tiếp tận tay đại biểu Trương Trong Nghĩa (hoặc có thể nhờ bác Dương Trung Quốc chuyển giúp nếu bác ấy đồng ý) và đăng lên blog Nguyễn Xuân Diện để tất cả bạn đọc được tường.

Một lần nữa cháu chân thành xin lỗi đại biểu Trương Trọng Nghĩa vì đã làm bạn đọc hiểu lầm dẫn đến xúc phạm bác. Cháu xin lỗi chú Nguyễn Xuân Diện vì đã sai sót khiến chú bị liên đới trách nhiệm. Và cháu xin lỗi toàn thể bạn đọc blog Nguyễn Xuân Diện vì đã chuyển đến mọi người 1 thông tin sai lệch.

Cháu xin chân thành cảm ơn.
Cháu
Một Người Việt Nam
 _________________________

-->đọc tiếp...