Blogger Widgets

Thứ bảy, ngày 15 tháng mười năm 2011

GIÁM ĐỐC ĐÀI TRUYỀN HÌNH TỈNH ĐỒNG NAI KHÔNG CÓ BẰNG CẤP III

Ông Mai Sông Bé - GĐ Đài PTTH tỉnh Đồng Nai. Ảnh: Internet
.
KHÔNG CÓ BẰNG CẤP III VẪN LÀM GIÁM ĐỐC ĐÀI TRUYỀN HÌNH TỈNH

Ông Mai Sông Bé – đương kim Giám đốc Đài PTTH Đồng Nai vừa lập kỷ lục, có lẽ là vô tiền khoáng hậu, lần thứ 5 đắc cử vào vai trò Chủ tịch Hội Nhà báo tỉnh. Nhưng, lần Đại hội này cũng ghi dấu một “kỷ lục”. Chưa bao giờ Đại hội Hội Nhà báo tỉnh Đồng Nai lại phải tổ chức nhiều cuộc họp “chuẩn bị” như vậy. Các hội viên là đảng viên được mời họp riêng một tiếng đồng hồ trước phiên trù bị. Trước đó, các đảng viên thuộc chi hội Đài Phát Thanh và Truyền hình Đồng Nai cũng đã được quán triệt trước một bước về một số nội dung liên quan đến nhân sự đại hội.

Vì sao có động thái bất thường này? Câu trả lời là, trước đại hội vài tháng, một hội viên đã đâm đơn tố cáo ông Mai Sông Bé, Chủ tịch Hội nhà báo tỉnh, ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam, Giám đốc Đài PTTH Đồng Nai.

Ba mươi lăm năm, không bằng mà vẫn lái xe phân khối lớn

Đơn tố cáo ngày 04/05/2011 của cựu chiến binh Lê Đăng Đua có hai nội dung chính. Thứ nhất, ông Đua tố cáo “chuyên viên, giám đốc Mai Sông Bé” (Ông Bé đang hưởng lương ngạch chuyên viên) không có bằng tốt nghiệp phổ thông trung học và  không có bằng tốt nghiệp đại học. Thứ 2, trong khi đó, hồ sơ lý lịch và hồ sơ nâng bậc lương đều ghi ông Mai Sông Bé có trình độ giáo dục phổ thông 12/12 và trình độ chuyên môn đại học (hoặc hoàn chỉnh đại học).

Cũng cần nhắc lại, ông Mai Sông Bé học hết lớp 12 năm 1976, nhưng không hiểu vì lý do gì, ông không thi tốt nghiệp và vì thế, ông không có bằng. Những năm đầu sau giải phóng, ông Mai Sông Bé công tác tại Thông tấn xã Việt Nam phân xã Đồng Nai. Sau đó ông chuyển về Văn phòng Hội Nhà báo tỉnh Đồng Nai, đảm nhận vai trò Phó chủ tịch rồi Chủ tịch. Giai đoạn 1985 – 1987, ông Bé học chương trình hoàn chỉnh đại học chủ nghĩa Mác Lê Nin nhưng không được cấp bằng, vì không có bằng tốt nghiệp phổ thông trung học. Mặc dù vậy, ông Bé đã được bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng biên tập báo Đồng Nai (5 năm) và Giám đốc Đài PTTH Đồng Nai (8 năm). Trong 35 năm hoạt động trong lĩnh vực báo chí và quản lý báo chí, ông Mai Sông Bé không có bằng đại học nào và cũng không có cả bằng cấp 3. Hai nội dung này, văn bản trả lời công dân Lê Đăng Đua của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy đã chính thức công nhận là đúng. 

Và… không hề bị thổi còi!?

Không những không thổi còi, không phạt, mà ngay cả khi đã công nhận ông Mai Sông Bé “không có bằng tốt nghiệp PTTH và vì thế cũng không có bằng đại học”; khi đã công nhận ông Mai Sông Bé khai phần “trình độ” trong một số hồ sơ giấy tờ không đúng, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy vẫn cho rằng, không có có cơ sở kết luận ông Bé không trung thực.

Về việc ông Bé không có bằng tốt nghiệp PTTH mà vẫn khai trình độ 12/12, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Đồng Nai cho rằng:

Thứ nhất ông Bé không có bằng tốt nghiệp PTTH nhưng có học bạ xuyên suốt 12 năm học. 

Thứ hai, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy còn cho rằng, “việc hướng dẫn khai lý lịch công chức hiện nay chưa rõ ràng, nên công chức không biết cách khai cho đúng. Hiện nay, người tốt nghiệp PTTH cũng khai trình độ giáo dục phổ thông là 12/12 và người học hết 12 nhưng chưa có bằng cũng khai như vậy, không có cách khai khác”, vì thế việc ông Bé không có bằng tốt nghiệp PTTH nhưng khai trình độ giáo dục phổ thông 12/12 là không sai.

Tuy nhiên, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Đồng Nai đã cố tình quên rằng, phần hướng dẫn khai lý lịch cán bộ công chức trong Quyết định số 06/2007/QĐ-BNV ngày 18/06/2007, mục 15.1 nêu rõ: Trình độ giáo dục phổ thông: ghi đã tốt nghiệp lớp mấy, thuộc hệ đào tạo phổ thông nào. Ví dụ : Lớp 10/10 (đối với những người tốt nghiệp lớp 10 hệ 10 năm); lớp 12/12 (đối với những người tốt nghiệp lớp 12 hệ 12 năm)  

Không lẽ Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy cũng như ông Mai Sông Bé không hiểu hàm nghĩa của khái niệm “tốt nghiệp” và cái gì cần có để chứng tỏ một người đã tốt nghiệp 12/12? 

Về việc ông Bé không có bằng tốt nghiệp đại học mà vẫn khai trình độ chuyên môn “đại học” hoặc “hoàn chỉnh đại học”, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Đồng Nai cho rằng: Ông Bé không có bằng đại học là do không có bằng tốt nghiệp PTTH, “tuy nhiên thực tế đồng chí Bé đã hoàn thành tất cả các chương trình hoàn chỉnh đại học cho nên không thể phủ nhận kết quả học tập chương trình đó, nên việc đồng chí Bé khai trình độ chuyên môn là hoàn chỉnh đại học là có cơ sở”.

Trong các văn bản trả lời công dân Lê Đăng Đua, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Đồng Nai thể hiện rằng, họ biết rõ, ông Bé chỉ được cấp “giấy chứng nhận hoàn tất chương trình hoàn chỉnh đại học lý luận chính trị Mác Lê nin” và giấy này chỉ có giá trị từ 6 tháng đến 1 năm. Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy Đồng Nai biết rõ giấy chứng nhận đó đã hết hạn sử dụng 23 năm. Nhưng, tập thể Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Đồng Nai vẫn cho rằng, việc khai trình độ chuyên môn của ông Bé vẫn là có cơ sở.

Và vì vẫn thừa nhận trình độ của ông Mai Sông Bé, dù ông Bé không có một tấm bằng phổ thông và chuyên môn nào trong 35 năm công tác, nên, Đại hội Hội Nhà báo tỉnh Đồng Nai nhiệm kỳ 2011 – 2016, ông Bé vẫn ra ứng cử và Thường vụ Tỉnh ủy vẫn phê chuẩn danh sách ứng cử viên. Và để chuẩn bị cho một Đại hội đứng trước nguy cơ tranh cãi về nhân sự, các cuộc làm việc riêng với đội ngũ đảng viên đã diễn ra, như chúng tôi đã đề cập.

Nhiều câu hỏi chưa có lời đáp???

Thứ nhất, việc ông Bé không có bằng, kể cả bằng chuyên môn lẫn bằng phổ thông, đã được nhiều người biết, Ủy ban Kiểm tra tỉnh ủy biết, Thường vụ Tỉnh ủy biết, thậm chí biết từ lâu. Đầu năm 2010, đã có đơn nặc danh tố cáo chuyện này. Nhưng vì là đơn nặc danh nên sau đó ông Bé vẫn ung dung “tại vị” và cũng không hề có động thái bổ sung bằng cấp. Vậy tại sao trong 35 năm là công chức, là cán bộ lãnh đạo, ông Bé, với tư cách đảng viên, không hoàn thiện trình độ của mình? Vì sao ông Bé không bị nhắc nhở, bắt buộc phải nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ? Trong khi, gần 20 năm qua, có rất nhiều lần Chính phủ yêu cầu chuẩn hóa cán bộ. Tiêu chuẩn cán bộ công chức đã có từ năm 2005. Riêng ông Bé, không có bằng cấp mà vẫn được bổ nhiệm giữ rất nhiều vị trí quan trọng?

Thứ 2, tại sao cho đến giờ phút này, chuyện ông Mai Sông Bé không hề có bằng đã được làm sáng tỏ, công khai trong giới báo chí Đồng Nai, mà ông vẫn được Tỉnh ủy Đồng Nai chỉ định cơ cấu vào Ban Chấp hành Hội Nhà báo nhiệm kỳ 2011 – 2016 với chức danh chủ tịch. Và tại sao, với một người thiếu tiêu chuẩn như thế, lãnh đạo tỉnh vẫn cố tình làm nhiều động tác “chuẩn bị” để đảm bảo cho việc đắc cử của ông ta?

T.H
TƯ LIỆU ĐI KÈM VỚI BÀI VIẾT:










Bài trên báo Công An Nhân Dân:
Việc tố cáo đồng chí Mai Sông Bé chưa học hết THPT và khai tốt nghiệp cấp III là không đúng

Cơ quan đại diện Báo Công an nhân dân tại TP Hồ Chí Minh nhận được đơn khiếu nại của ông Lê Đăng Đua, ngụ khu Cư xá Đài Phát tranh - Truyền hình Đồng Nai, tố cáo đồng chí Mai Sông Bé - Giám đốc Đài Phát thanh - Truyền hình Đồng Nai gian dối về trình độ học vấn để được bổ nhiệm. Bà Hoàng Thị Lài - Phó Chủ nhiệm UBKT Tỉnh ủy Đồng Nai đã ký công văn thông báo kết quả giải quyết tố cáo như sau: 

Qua thẩm tra học bạ cả quá trình học thể hiện rõ đồng chí Mai Sông Bé đã học hết chương trình trung học phổ thông hệ 12/12 và hoàn thành lớp 12 niên khóa 1975-1976. Đồng thời, các văn bản lý lịch Đảng khai năm 2001 và phiếu Đảng viên năm 2008, lý lịch CBCC năm 2008, 2011, đồng chí Bé tự khai trình độ học vấn lớp 12/12 và khẳng định không có bằng tốt nghiệp cấp III.

Về trình độ chuyên môn, đồng chí Mai Sông Bé đã học xong chương trình hoàn chỉnh Đại học lý luận chính trị Mác - Lênin trong thời gian từ 14/2/1985 – 25/11/1987 và được cấp giấy chứng nhận hoàn chỉnh vì đồng chí không có bằng tốt nghiệp cấp III nên không đủ điều kiện xét cấp bằng tốt nghiệp.

Do trước thời điểm ban hành Quyết định 06/2007/QĐ-BNV ngày 18/6/2007, không có văn bản quy định rõ CBCC kê khai phải có bằng tốt nghiệp mới được khai trình độ tương đương nên việc đồng chí Bé khai trình độ chuyên môn "Hoàn chỉnh đại học lý luận chính trị Mác - Lênin" là phù hợp với kết quả thực học, không có căn cứ để kết luận gian dối với Đảng, với cấp trên.

Tuy nhiên, xét thấy, đồng chí Mai Sông Bé có khuyết điểm chưa hoàn thành nhiệm vụ trong học tập để đủ điều kiện nhận bằng chính thức, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Đồng Nai đã chỉ đạo tổ chức Đảng có thẩm quyền kiểm điểm rút kinh nghiệm đối với đồng chí Bé về tinh thần trách nhiệm của đảng viên trong việc học tập và đã tổ chức kiểm điểm nghiêm túc.

Sau đó, tại Đại hội Hội Nhà báo tỉnh Đồng Nai (khóa VIII nhiệm kỳ 2011-2016), đồng chí Mai Sông Bé tiếp tục được tín nhiệm bầu vào Ban chấp hành, giữ chức Chủ tịch Hội Nhà báo tỉnh.

PLBĐ


-->đọc tiếp...

NỮ "THI SĨ" BỐC THƠM ÔNG TRẦN GIA THÁI LÀ AI?

TRẦN HUYỀN NHUNG LẠI BỐC THƠM THƠ TRẦN GIA THÁI
Nguyễn Hoàng Nguyên

Ngày 8-10-2011, Trần Huyền Nhung tung lên mạng của nhà văn Trần Nhương, mạng của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo bài bốc thơm tập thơ “Lời nguyện cầu trước lửa” của Trần Gia Thái (Chủ tịch Hội nhà báo Hà Nội, tổng giám đốc, tổng biên tập Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội) có tên: “Đọc tập thơ “Lời nguyện cầu trước lửa” của Trần Gia Thái”.

Trước khi nói đến bài bốc thơm thơ Trần Gia Thái của Trần Huyền Nhung, tôi xin bạn đọc tìm hiểu xem Trần Huyền Nhung là ai qua lời nhà thơ Vũ Thanh Hoa ( Vũng Tàu):

“Vụ việc Trần Huyền Nhung và văn chương mạng
VŨ THANH HOA

NVTPHCM- Mấy ngày qua, các bloggers trên trang vnweblogs.com sửng sốt khi phát hiện ra một blogger mới “nhập làng vnweblogs” chưa lâu lộ mặt đạo văn liều lĩnh và trắng trợn tên là Trần Huyền Nhung (tên blog là hoangnhungmedia) và bên 360 plus là blog Tigon’s.

Thỉnh thoảnh post lên vài bài bình thơ, văn, ca khúc… của một số nhà thơ, nhà văn lão làng trên mạng, blogger này bắt đầu tự tin post những bài thơ ký tên “Trần Huyền Nhung” lên vnweblogs.com… nhưng cô ta quên rằng trò chơi mạng bao giờ cũng có hai mặt, tức khắc có người đã phát hiện ngay bài thơ “Nghĩ về anh” ký tên Trần Huyền Nhung  sự thật là của một bloggers thâm niên trên vnweblogs tên Phương Phương. Các blogger bắt đầu vào cuộc, thôi thì có đủ ý kiến khác nhau, người cho là cô ta nông nổi lỡ dại, người cho là cô ta ỷ thế có những người nổi tiếng trên văn đàn mạng đứng sau lưng (những người đã giúp cô viết những bài phê bình), người thì nổi giận lôi đình vì thói ăn cắp trắng trợn… nhưng sự thật cứ hé lộ dần dần khi các bloggers tiếp tục “điều tra”, họ thành lập hẳn một blog cảnh báo cho cư dân mạng trên yahoo 360 để điều tra rõ trắng đen và có những dẫn chứng cụ thể, theo từng đường link và blog bị Trần Huyền Nhung đạo (tại đây) và vô cùng bất ngờ khi biết rằng: hầu như tất cả các bài thơ ký tên Trần Huyền Nhung đều “mượn lại” của các tác giả khác, có bài chưa ai biết và có bài đã nhiều người biết, có bài trên các blog cá nhân, trên các trang web, có bài đã được giải trong một cuộc thi… và Trần Huyền Nhung cũng đã kịp thời gửi đăng thơ và bài viết ký tên mình trên các trang web thiên về văn học như: vanchuongviet.org, trannhuong.com, nguyentrongtao.org, vanthoviet.com, vandanviet.net, Đất đứng, văn nghệ Nam Định… Sau khi phát hiện vụ việc và cảnh cáo, Ban Quản trị trang vnweblogs.com đã chiếu theo nội quy của trang vnweblogs.com để 3 ngày chờ chủ nhân blog hoangnhungmedia giải thích nhưng đáp lại, blogger này lại tiếp tục đăng bài bình thơ của một nhà văn lão làng như chẳng cần biết có gì xảy ra… và kết quả là blog hoangnhungmedia đã bị vô hiệu hóa trên trang vnweblogs.com, một số trang web đã gỡ những bài thơ ký tên Trần Huyền Nhung sau khi  điều tra sự thật là của tác giả khác và  Trần Huyền Nhung cũng bị trục xuất ra khỏi “Ban Quản trị” một trang web văn học.

Đạo văn thời gian qua đã được nói khá nhiều, thôi thì đủ mọi loại thượng vàng hạ cám, nếu in trên giấy trắng mực đen sẽ dễ dàng “bắt tận tay day tận mặt” (vụ cô Lê Thủy) còn trên mạng thì có thể nhanh chóng xóa dấu vết hơn. Từ lâu văn chương mạng vẫn bị coi thường bởi người ta vẫn nghĩ đằng sau các trang web văn chương có sự thiếu khách quan mang nhiều dấu ấn cá nhân của chủ trang, khi các nhà văn lão làng thiếu thận trọng chọn đăng và lăng-xê  các bài viết (nhất là các bài viêt ca ngợi mình) của những ngòi bút không đi bằng con đường chân chính, vô tình làm mất sự tín nhiệm của độc giả. Còn bản thân những blogger như Trần Huyền Nhung đã vội vã, chủ quan coi thường người đọc, nghĩ khá đơn giản về sự nổi danh và quá tự tin vào những mối quan hệ bên ngoài văn chương, mong một sớm một chiều ngồi “chiếu trên” của Văn đàn, mà không biết rằng Ngôi đền Văn chương đích thực  luôn thiêng liêng và trong sáng.”
18.6.2011
BQT vnweblogs.com
.
Trn Huyn Nhung đo văn bo gan hơn c Lê Thy!
(Lên mng lúc 18:30 ngy 13/6/2011)

Vụ Lê Thủy đạo văn vẫn đang ì xèo khắp nơi. Thế mà ngay tại vnweblogs này vừa có blogger ngang nhiên đạo thơ của một blogger khác! Cũng có thể người này đã chôm bài thơ “sưu tầm” từ một trang nào đó và “hồn nhiên” bê nguyên nó đặt vào blog mình với cái tên T.H.N tức Trần Huyền Nhung, và không ngờ tác giả đích thực của bài thơ lại là một nữ blogger của vnweblog? Hy vọng là thế để chúng ta không nghĩ người này quá liều lĩnh và trơ tráo, nhất là cô ta đang được coi là một người yêu văn chương và có nhiều bài viết phê bình văn thơ được đăng tải trên mạng.

Sự việc bị phát giác vào trưa hôm qua, khi BQT được “một người đọc” thông báo trên trang blog Trần Huyền Nhung (http://hoangnhungmedia.vnweblogs.com/) đã đăng nguyên xi bài thơ “Nghĩ về anh” của Phương Phương với tên tác giả THN. Chủ nhân blog hoangnhungmedia sau khi cám ơn một số lời khen về bài thơ thì nhận được thắc mắc của “Một người đọc” (Tôi thấy Bài thơ "Nghĩ về anh" đăng TẠI ĐÂY đề là của tác giả Phương Phương, sao nay lại đăng TẠI ĐÂY đề là của THN? Hai người là một hay là hai?) và đã vội cho bài viết vào chế độ đang soạn thảo và sau đó thì xóa hẳn. Nhưng chúng tôi đã kịp lưu lại những “khoảnh khắc” hiện diện của bài thơ này trên blog Trần Huyền Nhung:

Như vậy, chúng ta biết Trần Huyền Nhung vốn có tài đạo văn; không ngờ, ngay trong bài viết  bốc thơm thơ Trần Gia Thái, đoạn văn  mở đầu có vẻ “lý luận” lại là đoạn Trần Huyền Nhung đạo văn. Xin xem lời nhà văn Khôi Vũ ( Đồng nai) viết trên website của ông như sau :

Trần Huyền Nhung lại copy của người khác đưa vào bài mình
 
Hôm nay KV tôi đọc được trên nguyentrongtao.org bài của nữ doanh nhân Trần Huyền Nhung (có lập blog trên vnweblogs do yêu văn chương?). Đây là bài "phê bình" (khen) tập thơ mới xuất bản của tác giả Trần Gia Thái, Giám đốc Đài TH Hà Nội (Người bị các nhân sĩ Hà Nội kiện về việc cho đưa tin biểu tình & vu khống những người này). Trước bài của Trần Huyền Nhung đã có vài bài viết khen thơ Trần Gia Thái, đồng thời một số bài khác chê tập thơ này, phản đối những người đã "khen".
Chuyện khen, chê trong sáng tác văn học là bình thường. Ở đây, KV tôi chỉ nói đến một phần bài phê bình của Trần Huyền Nhung (ngoài trang nguyentrongtao.org, còn đưa lên cả trên trang http://hoangnhungmedia.vnweblogs.com/ nữa). 

Dưới bài này trên trang nguyentrongtao.org có một comment của bạn đọc như sau:
Ngố Tàu09/10/2011

Bài bình thơ này lại đạo một số đoạn và ý của bài viết tại đây:http://ngonnguhoc.org/forum/viewtopic.php?f=13&t=1656&p=9233.
Pó tay.com!!!

Tò mò, KV tôi bèn vào địa chỉ trên thì thấy đây là trang web của trường Đại học Khoa học Xã Hội Nhân văn - Khoa Ngôn ngữ học có tên là MISS & MISTER NGÔN NGỮ HỌC LẦN 3 NĂM 2011. Tiêu đề bài viết là Thơ Thơ Thẩn Thẩn Thơ thẩn, người gửi là hankaro, Đã gửi: 26 Tháng 5 2010, 16:04.

Tiếp tục tìm xem có đoạn nào giống nhau không thì thấy có đoạn này (trong bài trên trang ngonnguhoc.org:

Nằm trong phương thức biểu hiện trữ tình, thơ được xác lập nhờ mối rung cảm thầm kín giữa những con người và cuộc sống. Sống trong dòng chảy ngọt ngào của thơ ca, con người được tắm mình trong tình cảm của nhà thơ và của chính bản thân mình. Thơ đi vào lòng người những cảm xúc những mối liên tưởng kín đáo bằng ý tứ sâu xa và sức quyến rũ của thanh điệu, tiết tấu... tất cả đã ùa vào cùng một lúc tràn ngập trong lòng người đọc, xoá sạch đi hay khắc sâu hơn những tình cảm con người: những tình cảm nhỏ nhem, ích kỷ sẽ bị loại bỏ, những tình cảm cao quý sẽ được nâng lên. Tâm hồn con người sống với thơ sẽ được “thanh lọc” (Aristot) trở nên trong sáng và đẹp đẽ hơn. Sống với thơ con người sẽ tìm được sự yên tĩnh trong tâm hồn, sẽ được nghĩ ngơi. Nhưng cũng trong lúc đó, tâm hồn con người sẽ tiếp tục cuộc hành trình trên đường đời, để lớn hơn, để khôn hơn... những giây phút nghĩ ngơi như thế không phải là trống rỗng, ngược lại sự im lặng của nó có một ý nghĩa sâu xa trong cuộc đời của một con người. Là khoảnh khắc mà con người sống với chính bản thân mình, sống với cuộc sống nội tâm. Nhưng cũng chính vì thơ là tiếng lòng nên cũng không dễ dàng khơi nguồn những cảm xúc, những nắm bắt của tâm lý đời thường. Cảm xúc của chúng ta trào dâng mãnh liệt, cuộc sống cứ cuộn xoáy lên, từng mãng tràn đầy trong tâm hồn, song để viết thành những lời thơ có vần điệu thì không mấy dễ dàng. 

Cuối cùng, đọc lại bài của Trần Huyền Nhung thì gặp ngay đoạn đầu tiên như sau:

Nằm trong phương thức biểu hiện của trữ tình, thơ ca được xác lập nhờ mối rung cảm thầm kín giữa con người và cuộc sống. Sống trong dòng chảy ngọt ngào của thơ ca, con người tắm mình trong tình cảm của nhà thơ và của chính mình. Thơ ca thấm vào lòng người đọc bởi những cảm xúc trực tiếp và nhiều mối liên tưởng kín đáo, bằng những ý tứ sâu xa và sức quyến rũ của tiết tấu, thanh điệu… Tất cả như cùng một lúc ùa vào, tràn ngập trong lòng người đọc, xóa đi hay khắc sâu thêm tình cảm của con người: Những nhỏ nhen, ích kỷ bị loại bỏ, những gì đẹp đẽ, cao quý được tôn vinh. Tâm hồn của con người với thơ sẽ được “thanh lọc” (Aristot) để trở nên trong sáng hơn, cao thượng hơn. Sống với thơ con người sẽ tìm thấy sự yên tĩnh trong tâm hồn, sẽ được nghỉ ngơi, nhưng cũng chính lúc đó, con người tiếp tục hành trình để trở về bản ngã của chính mình. Những phút nghỉ ngơi ấy không phải là trống rỗng, vô nghĩa; ngược lại sự im lặng lại có một ý nghĩa sâu xa trong cuộc đời của mỗi người, là khoảnh khắc con người sống thật nhất, sống với bề dày của cuộc sống nội tâm. Cảm xúc của ta cứ trào dâng mãnh liệt, cuộc sống cứ cuộn lên, xoáy sâu từng mảng ngập tràn tâm hồn khi đọc những vần thơ của Trần Gia Thái.

So sánh thì thấy giống nhau "hơi bị nhiều": những chỗ in nghiêng ở bài trên được "chuyển qua" bài của THN và được tác giả sửa đôi chỗ (cắt bỏ hoặc thêm vài chữ)!

Được biết tác giả viết blog Trần Huyền Nhung trước đây đã từng bị admin của Vnweblogs cảnh cáo và tạm dừng trang blog một thời gian vì đăng bài giống của các tác giả khác! Sau đó cô THN "nhận lỗi" bằng một bài viết (được cho là nhận lỗi quanh co chứ không dám nhận trực tiếp lỗi của mình). Trước sự "phục thiện"(!) này, Admin của Vnweblogs đã cho trang blog Trần Huyền Nhung tiếp tục hoạt động.


Xin xem người làm nghề “ thó “ thơ văn thiên hạ làm thơ văn mình - Trần Huyền Nhung - ca ngợi thơ Trần Gia Thái hết lời, hệt như những nhà phê bình quốc doanh xưa tụng ca thơ Tố Hữu : “Cảm xúc của ta cứ trào dâng mãnh liệt, cuộc sống cứ cuộn lên, xoáy sâu từng mảng ngập tràn tâm hồn khi đọc những vần thơ của Trần Gia Thái.

 “Lời nguyện cầu trước lửa” là một tập thơ của Trần Gia Thái rất có ấn tượng với tôi ngay từ tiêu đề. Nghe như lòng thành tâm của Trần Gia Thái trước một vấn đề thuộc về tâm linh. Lần dở vào trang trong, tôi bắt gặp bài thơ “Lời nguyện cầu trước lửa” (Tr.67), đúng như ý nghĩ ban đầu của tôi khi cầm tập thơ trên tay. Nội dung bài thơ không những giàu tính nhân văn cao cả, mà còn mang đậm chất Thiền của kinh nhà Phật. Cuộc sống đầy rẫy những bon chen, ghen ăn tức ở… lúc này không có mặt trong “lời nguyện cầu trước lửa” của Trần Gia Thái. Ta có cảm tưởng như Trần Gia Thái đã thiền vào thơ, để rồi Anh cảm nhận xung quanh mình chỉ còn là:

“Gió và gió
Hoa tràn theo gió
Gió cuốn hương của muôn loài thảo dược thấm quyện lên một trời hương tinh khiết
Nhìn họ, ta tin những điều thiện cát trong lá sớ kia sẽ thành hiện hữu
Mãn nguyện một đêm hương
Sương ngủ quên trên lá
Trăng đã khóc
Những giọt nước mắt hoan hỉ mừng cho sự giải thoát
Sẽ không còn nữa cảnh đói niềm tin”
                         ( Trích “lời nguyện cầu trước lửa”- tr.69)

Kẻ viết bài này, xin mượn lời nhà thơ Trần Mạnh Hảo, trong bài “ Đọc tập thơ Trần Gia Thái, buồn về hội chứng “méo mó hình hài vẹo xiêu nhân cách” của nền văn học hôm nay”, bình về bài thơ “ Lời nguyện cầu trước lửa”, là cái đinh, là điểm nhấn số một của tập thơ, được Trần Huyền Nhung  bốc thơm như sau:

“Một người chưa biết viết câu văn tiếng Việt đơn giản, viết sai ngữ pháp, viết thật tối nghĩa, phản nghĩa, lủng củng như Trần Gia Thái, sao có thể lãnh đạo toàn ngành báo chí từ báo chữ, báo nói, báo hình của thành phố Hà Nội ? Bó tay !Đọc cả tập thơ “ Lời nguyện cầu trước lửa”, chúng tôi chẳng tìm thấy sự lớn lao nào cả, chí thấy toàn chữ là chữ, toàn nói là nói, nhưng chất thơ thì biến thành vô hình, biến thành không có thật.

Xin trích nguyên văn bài thơ “ Lời nguyện cầu trước lửa” ( trang 67) được lấy làm tên cho cả tập thơ để thách đố bạn đọc xem có tìm ra câu thơ nào không ? Chắc Trần Gia Thái cho bài thơ này hiện đại lắm, “lớn lao đến mức thành vô hình” lắm lắm, tâm huyết lắm, là cái đinh của cả tập thơ:

“Lời nguyện cầu trước lửa

( Kính tặng Đại Đức Thích Minh Pháp)

Ấy là lúc chuyển sang nghi thức cuối cùng của Đàn lễ tân niên
Trang nghiêm Đại Đức tọa theo tư thế Đức Phật ngự trên tòa sen
Tự tay ông khơi ngọn lửa
Lớn dần lớn dần lửa đồng điệu cùng âm vang lời cầu nguyện của những thiện nam tín nữ
Lửa bay phần phật như cờ vàng rồi hợp thành một tháp lửa vàng
Vàng cuồn cuộn hất ngược vào không trung
Đêm và ngày giao hòa
Quyền uy phủ vàng mật thất
Tựa như muôn lưỡi mác uốn cong kết thành đài lửa
Hoàng Liên
Hoàng Liên
Tòa sen vàng đấy ư ?
Trong quầng lửa kỳ biến dường như quần tụ những gương mặt chúng sinh rạng ngời ký thác trên dung nhan Phật
Từ mơ hồ vọng về lời sấm
Gió bão nắng mưa nóng lạnh đội lên từ sâu thẳm đất hay ngồn ngộn kéo về từ vũ trụ bao la ?
Không, không hẳn thế
Đấy là lời vị Đại Đức có đôi mắt sáng như sao và giọng nói trầm hùng vang động
Ông nói với lửa bằng ngôn ngữ riêng
Ngọn lửa dịu dần dịu dần hóa thân vào một vầng trăng viên mãn sau cái lắc chuông đường đột như một khẩu lệnh cắt đứt chuỗi âm thanh tưởng như triền miên vô tận ấy khiến ta bừng tỉnh
Ôi, giá như bức tường kia là một tấm gương thì các phật tử lúc này sẽ được chiêm ngưỡng chính mình và cảm nhận rõ sự thăng hoa hàm súc
Gió và gió
Hương hoa tràn theo gió
Gió cuốn theo hương của muôn loài thảo dược thấm quyện nên một trời hương tinh khiết
Nhìn họ, ta tin những điều thiện cát trong lá sớ kia sẽ thành hiện hữu
Mãn nguyện một đêm hương
Sương ngủ quên trên lá
Trăng đã khóc
Những giọt nước mắt hoan hỉ mừng cho sự giải thoát
Sẽ không còn nữa cảnh đói niềm tin”
( hết bài thơ)

Đọc xong bài được Trần Gia Thái gọi là thơ này, chúng tôi không biết nó thuộc thể loại gì : văn xuôi, văn tế, văn tường thuật, văn đưa linh…hay mê cung triết học ? Cầu mong ông Trần Gia Thái thương tình mà chỉ giáo cho sự tò mò có thể phát ốm của chúng tôi được giải tỏa phần nào ? Với kiến văn hạn hẹp người trần mắt thịt, chúng tôi xin cá với ông Trần Gia Thái bài sớ trên của ông mà là thơ thì chúng tôi xin …chết liền.”

Xin trích những lời bốc thơm vô tội vạ, bốc thơm không biết ngượng của Trần Huyền Nhung trước những câu không thể được gọi là thơ của Trần Gia Thái trong bài thơ “ Lời nguyện cầu trước lửa” :

“Trăng đã khóc” hay chính là Trần Gia Thái đã nhỏ những “ giọt nước mắt hoan hỉ” từ chính tấm lòng của mình? Vâng, Anh đã mừng cho sự “giải thoát” chúng sinh. Anh cầu nguyện cho những cảnh đói nghèo không còn xuất hiện trong xã hội này nữa. Lòng tin vào Đức Phật từ bi trong Trần Gia Thái rất cao. Nếu không có một tấm lòng từ bi bác ái, thì tôi nghĩ rằng Trần Gia Thái không thể viết lên được những câu thơ như thế.”

Trần Huyền Nhung còn tung ra hàng chục dòng tụng ca lên mây xanh thơ Trần Gia Thái, khen tới bến hơn cả những bài bốc thơm thơ Trần Gia Thái của Hữu Thỉnh, Vũ Quần Phương, Nguyễn Sĩ Đại; ví dụ như :”


“Đọc tập thơ “Lời nguyện cầu trước lửa”, ta còn nhận ra giá trị nhân văn trong mỗi trang thơ của Trần Gia Thái.
“Giản dị, chân tình, mộc mạc, thăng hoa… đó là tất cả những gì người đọc tìm thấy trong thơ Trần Gia Thái. Xin đặt bàn tay lên ngực thành kính “lời nguyện cầu trước lửa” cùng Người con của quê hương Bình Lục – Hà Nam!”

Vấn đề tôi muốn nói ở đây là sự ngụy biện đến ngớ ngẩn của Trần Huyền Nhung, bênh vực hành vi tội lỗi của Trần Gia Thái, dùng đài truyền hình Hà Nội chiếu hai cuốn phim hạ nhục, phỉ báng những người yêu nước chống giặc Trung Quốc xâm lược quanh Hồ Gươm Hà Nội là xấu xa, phản động, đáng phải trừng trị.

Trần Huyền Nhung viết :

Lời nguyện cầu trước lửa”, Trần Gia Thái tuyệt nhiên không hề nói tới chuyện chính trị trong thơ, ta không được quyền “lẫn lộn” giữa thơ và đời thực. Ý thức được vai trò “đệm đàn” của nhà phê bình – làm sao “đệm” nhưng “không át tiếng hát”, nghĩa là gợi lên cái nhịp cầu (không ai bắc nổi) nối thực với mơ, giữa trời với đất ( ý Hoài Thanh). Gần đây, một số nhà phê bình đã “đệm đàn” làm “át cả tiếng hát” của Trần Gia Thái. Đang chuyện thơ thì nhảy qua chuyện chính trị, thậm chí bàn luận những vấn đề chẳng liên quan tới tập thơ “lời nguyện cầu trước lửa” gì cả. Trong cách hành văn, như thế gọi là “lạc đề”, thậm chí một số người còn “lậu đề” một cách trắng trợn”

Trần Huyền Nhung bảo “ Không được nói chuyện chính trị trong thơ”. Thế mà, trong bài bốc thơm này, Trần Huyền Nhung lại trích hơn hai lần thơ Tố Hữu - một nhà thơ chính trị số một Việt Nam - làm cơ sở cho “lập luận” của mình.

 Trần Huyền Nhung lại phán : “TA KHÔNG ĐƯỢC LẪN LỘN GIỮA THƠ VÀ ĐỜI THỰC” ! Thơ được viết ra từ con người cụ thể, con người thực, hồn thơ xuất phát từ đời thực mà thăng hoa, mà đi vào lòng người thực. Tách thơ ra khỏi đời, tách thơ ra khỏi người viết ra nó, thì thơ được hư vô viết ra ư ? Chế Lan Viên từng quở trách thứ thơ siêu hình kia : “ Đời đẻ ra thơ mà thơ lại hòng quên “. Đời là cơ sở, là cội nguồn của thi ca. Hô hào tách thơ ra khỏi cuộc đời, Trần Huyền Nhung đang một mình chơi thơ trên sao Hỏa (!) ?

Dụng ý của Trần Huyền Nhung nhằm chống lại những bài viết nói về thân nhân bất hảo của Trần Gia Thái, kẻ dùng truyền hình thóa mạ những người yêu nước.Một kẻ chống lại nhân dân mình, xỉ vả, bôi nhọ những người yêu nước trên truyền hình như Trần Gia Thái, kẻ đó liệu có tâm hồn đẹp không, có nhân cách tốt không ?

Không, một trăm lần không ! Một kẻ chống lại dân tộc mình, chống lại đồng bào mình, làm tay sai cho ngoại bang như Trần Gia Thái không thể nào có một tâm hồn cao đẹp, tất nhiên không thể nào thành nhà thơ chân chính.

Than ôi, mèo mả gà đồng xưa nay gặp nhau là lẽ thường tình.

Chúng ta không hề ngạc nhiên khi một người chuyên đi đạo văn người khác làm văn mình như Trần Huyền Nhung lại bốc thơm thơ Trần Gia Thái đến thế .,.

Hà Nội 13-11-2011
Nguyễn Hoàng Nguyên

-->đọc tiếp...

KHẢO CỨU VỀ KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO ĐỜI LÝ TRÊN TƯ LIỆU VĂN BIA

Văn bia thời Lý cho biết những gì về kiến trúc Phật giáo thời kỳ này

Trần Thị Kim Anh
-viết riêng cho NXD-Blog

Văn bia thời Lý hiện còn cho biết về kiến trúc của 13 ngôi chùa. Dưới đây là những gì các văn bia ghi lại:
1. Chùa Linh Xứng trong văn bia Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh (1089)
Chùa nằm trên sườn núi Ngưỡng Sơn (nay thuộc xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung, Thanh Hóa) được Lý Thường Kiệt và Sùng Tín trưởng lão là thầy học của Thái Hậu Ỷ Lan chọn đất xây dựng trong 4 năm (1085-1089). Văn bia cho biết Lý Thường Kiệt và Sùng Tín trưởng lão đến vùng núi Ngưỡng Sơn, thấy cảnh trí thanh u, cây cối tốt tươi lại không quá xa làng xóm, bèn quyết định cho xây dựng chùa. Chùa được xây khá bề thế ở phía đông núi:
Ở giữa là điện Phật thênh thang; hai bên là nhà trai dài rộng rãi. Phía sau xây ngôi bảo tháp gọi là tháp Chiêu Ân, chín tầng chót vót, giăng mắc rèm the, cửa mở bốn mặt, lan can vây quanh. Góc mái treo chuông đồng nhỏ. Lan can hàng hiên quanh thềm. Đầy sân hoa cỏ. Trong chùa, ngự ở chính giữa trên cao là tượng Ngũ trí Như lai  mạ vàng rực rỡ, ngồi trên tòa sen trồi lên mặt nước. Quanh tường tô vẽ dung nghi đẹp đẽ của Thập lục bồ tát cùng các thứ bậc biến tướng muôn hình vạn tượng, không thể kể xiết.. Phía trước có cổng chính, trong treo chuông đồng, Thẳng ngay phía trước là một con đường, hai bên khơi ngòi dẫn nước đổ vào. Sát bên sông dựng ngôi đoản đình, thuyền bè qua lại thường dừng chèo tạm nghỉ, lên chùa quỳ gối chiêm bái.
2. Chùa Báo Ân trong văn bia An Hoạch sơn báo ân tự bi ký (1100)
Chùa Báo Ân ở núi An Hoạch (núi Nhồi), nay thuộc huyện Đông Sơn Thanh Hóa. Chùa do Lý Thường Kiệt cho xây dựng vào niên hiệu Hội Phong đời vua Lý Nhân Tông, bắt đầu từ mùa hạ năm 1099 đến mùa hạ năm 1100 thì hoàn thành. Văn bia cho biết:
Chùa ngoảnh hướng nam, Giữa đặt tượng phật Thích Ca Mầu Ni, tiếp đó bày tượng Bồ Tát, mặt đẹp rực rỡ sắc vàng, mình đều sơn vẽ. Chùa này khởi công từ mùa hạ năm Kỷ Mão (1099), đến mùa hạ năm Canh Thìn (1100) thì hoàn thành: Chùa được sơn vẽ rực rỡ, hướng về phía nam, trông ra quang cảnh của huyện Cổ Chiến. Đồng ruộng từng ô xanh tốt, phía sau liền với gò Tường Bằng. Bên cạnh sừng sững núi Bạch Long, một dòng sông trong xanh chảy ngang, làm thành một giải.
3.Chùa Diên Hựu trong văn bia Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi (1106)
Chùa được xây dựng vào năm 1049 thời vua Lý Thái Tông trong viên lâm phía tây cấm thành, theo cách dựng chùa trên kinh chàng (Nhất trụ tự) ở kinh đô Hoa Lư . Năm 1106 niên hiệu Long Phù Nguyên Hóa đời vua Lý Nhân tông, chùa được trùng tu lớn. Sau khi trùng tu  chùa trở thành một quần thể kiến trúc với trung tâm là một hồ vuông gọi là hồ Linh Chiểu thả sen, giữa hồ nổi lên một cột đá lớn, trên đỉnh cột là đóa sen vàng ngàn cánh nở rộ. Giữa đóa sen là tòa điện nhỏ màu tía, Trong điện đặt tượng phật mạ vàng. Vây quanh hồ sen là hành lang chạm vẽ, vòng ngoài hành lang là hào nước xanh biếc, mỗi mặt đều bắc cầu vồng để đi thông vào, ở mỗi sân phía trước hai bên cầu đều dựng hai ngọn tháp lợp ngói lưu ly.
4.Chùa Bảo Ninh Sùng Phúc trong văn bia Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi văn (1107)
Chùa do quan Thái phó Hà Hưng Tông xây dựng ở Tuyên Quang vào năm 1107 niên hiệu Long Phù Nguyên Hóa đời vua Lý Nhân Tông. Chùa này:
Nhà liên tiếp bao quanh. Xà uốn cong cong như cầu vồng đôi nhịp. Mái hiên như cánh chim tung bay bốn phía, bày tượng vàng. Đốt trầm hương, treo chuông khánh, treo cờ phướn, trồng thông xanh.
5.Đài đèn Quảng Chiếu trong văn bia Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi (1116)
Đài đèn Quảng Chiếu được vua Lý Nhân Tông cho xây dưng vào năm 1116 niên hiệu Hội Tường Đại Khánh năm thứ 7. Mùa xuân hàng năm vào tết Nguyên tiêu, triều đình mở hội, đốt đèn rực rỡ một góc trời, tăng chúng đi vòng quanh đèn tụng kinh, quan liêu sắp hàng bái lạy, cầu cho quốc thái dân an. Hội đèn Quảng Chiếu đã tồn tại rất lâu, suốt đến hết thời Trần.
Theo văn bia, Đài đèn Quảng Chiếu là một quần thể kiến trúc ở phía trước cổng Đoan Môn của hoàng thành Thăng Long, bao gồm một đài đèn lớn, điện phật, tháp tượng, lầu chuông. Quần thể kiến trúc này được mô tả khá kỹ như sau: 

Đèn được đặt trên đài, gồm một cây cột lớn được gắn bảy tầng đèn, mỗi tầng đèn gồm những tay đỡ hình rồng uốn cung chìa ra. Mỗi hình rồng đỡ một đóa sen thếp vàng, giữa đóa sen đặt một ngọn đèn lớn, mỗi ngọn đèn được che bằng một chiếc lồng may bằng nhiễu, dưới đài giấu một trục bánh xe để giúp cây đèn lớn này xoay tròn, tỏa ánh sáng  rực rỡ một góc trời. Cây đèn này được đặt trong tổng thể kiến trúc gồm một tòa điện Phật trang nghiêm, hai bên là hai dãy tượng tạc vẽ sinh động, tiếp đó là hai tòa lầu sơn vẽ lộng lẫy, trong treo chuông đồng và tạc hình thầy tăng mặc áo quê, có giấu máy ở bên trong, khi máy hoạt động thầy tăng giơ vồ chuông lên như sắp đánh, nghe tiếng vỗ bao kiếm là quay đầu lại, nhìn đức vua mà khom lưng cúi đầu. Phía sau là dãy tháp thất bảo rực rỡ. Chính giữa là ngọn tháp vàng, trong đặt tượng Đa Bảo Như Lai, bày mấy tầng chân hình pháp giá, màu ngói rực rỡ như mây biếc. Tiếp hai bên là hai tòa tháp bạc, tòa bên trái đặt tượng A Di Đà Như Lai, tòa bên phải để Diệu Sắc Thân Như Lai, dáng tháp cao khỏe, vút lên, lấp lánh ánh bạc. Tiếp nữa là hai tòa tháp đá chạm, tòa bên trái để tượng Quảng Bác Thân Như Lai, tòa bên phải bày tượng Ly Bố Úy Như Lai, làm gác cao hình tròn, dựng tầng chênh vênh, nóc lợp ngói quý, vách chạm hình rồng. Cuối cùng là hai tòa tháp bằng ngà voi, tòa bên tả bày hình Cam Lộ Vương Như Lai, tòa bên hữu là Bảo Thắng Như Lai, thềm bằng đá mộc, cột hiên gác cao, rường cột chạm vẽ, các khe đều nạm sừng tê, xung quanh tòa sen đều khắc bài ký, vẽ chín tầng trời bằng ngũ sắc, khắc câu đối ở bốn cột. Bày đèn lấp lánh  hai bên.
Qua đó có thể thấy đây là một quần thể kiến trúc lớn, độc đáo, được làm công phu tốn kém, là một sáng tạo tuyệt vời về kiến trúc ở thời Lý, xứng đáng sánh ngang với các công trình kiến trúc nổi tiếng trong khu vực. Cùng với cây đèn là hội đèn Quảng Chiếu với nghi lễ trang nghiêm mang tính quốc lễ, đậm chất Việt. Theo tôi, việc cho phục dựng công trình kiến trúc này và lễ hội đèn Quảng Chiếu tại Thăng Long – Hà Nội là điều Bộ văn hóa và Giáo hội Phật giáo nên tiếp tục trình Chính phủ xem xét.
6.Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh trong văn bia Sùng Nghiêm Diên thánh tự bi minh
Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh do Thông phán họ Chu -  người được cử làm quyền trấn giữ, cai quản quận Cửu Chân cho xây dựng năm 1116 niên hiệu Hội Tường Đại Khánh năm thứ 7, đời vua Lý Nhân Tông, trên nền một ngôi chùa cũ ở góc phía nam thành quận này. Văn bia cho biết:
Chùa sát đường lớn. Rường nhà cong cong như cầu vồng nhô ra, lợp gói uyên ương. Các góc mái vươn lên như cánh bay, khắc hoa văn hình rong, chạm trổ hình phượng múa. Mái cong, song lượn, Tường vách vây quanh, lang vũ  bao bọc, Bên hữu có vườn thơm, phía tả có ao sen. Dựng nhà khách, xây nhà bếp.
Trong chùa thì chùa chiền ngăn nắp, tượng phật trang nghiêm. Đúc ba pho tượng Như lai bằng đồng. Chính giữa đặt tượng Thích ca mâu ni phật, tượng Ca Diếp một bên, tượng Từ Thị (Di Lặc) một bên. Chạm đá làm đài hoa sen để đặt tượng. Thứ đến là tượngTân Đầu hòa thượng ngồi trên ngọn núi Ma lị, đặt trước cửa phật gọi là Hộ Pháp. Đúc một quả chuông lớn, dựng giá lớn ngoài hiên chùa, treo bằng dây đồng, đánh bằng vồ gỗ. Lại vẽ các tranh trên tường về các duyên nhân quả, thiên biến vạn hóa tường tận khúc nhôi. Tượng phật thì có cả tượng đất cả tượng đồng.  
7.Chùa Long Đội và tháp Sùng Thiện Diên Linh trong văn bia Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi
Chùa Long Đọi nằm trên núi Đọi sơn có tên chữ là Diên Linh tự. Chùa được vua Lý Nhân Tông cho xây dựng, bắt đầu từ niên hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ chín (1118), đến mùa thu niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ thứ 2 (1121) thì hoàn thành. Chùa hướng ra sông Kinh, lưng tựa núi Điệp. Văn bia miêu tả chùa và tháp khá cụ thể, khiến ta có thể hình dung ra chùa Long Đọi là một tổng thể kiến trúc gồm ba cấp (theo độ dốc của sườn núi):
Bậc trên cùng là thềm tháp, trên thềm tháp dựng cây tháp vuông bốn mặt, cao 13 tầng, các tầng có cửa, Đỉnh tháp đặt tượng người tiên bưng mâm hứng sương lành. Các tầng mái tạo góc uốn cong, các góc mái đều treo chuông nhỏ. Vách tháp đều tạc rồng ổ. Trong tháp, tầng trên cùng thờ xá lỵ Phật, tầng dưới cùng đặt tượng Đa Bảo Như Lai thếp vàng, bên trên tượng có treo phướn treo lọng, có tượng bát vị kim cương bằng đá đứng hộ vệ. Thềm tháp có bậc lên xuống, hành lang giải vũ tỏa ra hai bên.
Bậc tiếp liền thì bên tả xây ngôi nhà tứ giác mái vòm, có đôi rồng cuổn trấn giữ, đội Bát vị kim cương chầu trời. Bên hữu dựng khám vuông mái nhọn kiểu Phạn, trong là tượng Tân đầu hòa thượng (tức Tân Đầu Lô - Bhâradvâja) đặt trên ngọn núi Ma Lị.
Bậc dưới thì  phía trước dựng gác Lăng Hán, treo khánh đá quý. Xây tường vây giữ, làm hành lang giải vũ để điểm tô, làm cầu thông ra con đường lớn trồng hai hàng thông hai bên. Vật liệu kiến trúc gồm đá gỗ và gạch.
Đây cũng là một công trình kiến trúc đặc sắc của thời Lý. Có lẽ trongtương lai, chúng ta nên  phục dựng lại những công trình như đài đèn Quảng Chiếu, chùa tháp Sùng Thiện Diên Linh, bởi chúng hoàn toàn là của ta, là tinh hoa trí tuệ của Phật giáo Việt Nam?. 
8.Chùa Hương Nghiêm trong văn bia Càn Ni Hương Nghiêm tự bi minh
Chùa Hương Nghiêm vốn là một ngôi chùa cổ, do Bộc xạ tướng công Lê Lương xây dựng từ đời hậu Đường (923 – 937) tại núi Càn Ni (nay thuộc làng Phủ Lý Nam, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Thời Tiền Lê, vào năm 1003, vua Lê Đại Hành đi tuần du, đến giang Ngũ Huyện ở Thanh Hóa thấy chùa đổ nát cho chữa lại. Đến Thời Lý, năm 1031, vua Thái Tông đi chơi về phương nam, tới Ái Châu thấy chùa đổ nát lại cho tu sửa. Năm 1122 niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ đời vua Lý Nhân Tông, sư Đạo Dung ở kinh thành về thăm thấy chùa cũ nát lại cho trùng tu. Chùa trùng tu xong được mô tả là:

Tượng phật đặt trên các bệ đá cao chạm khắc núi non sóng nước. Mái cong cong như cánh trĩ; ngói lớp lớp như vẩy xếp. tường làm lan can thoáng mát; cổng rộng lớn. Mé trái có một tòa lầu nguy nga, trong treo chuông lớn. Bên phải dựng tấm bia đá ghi công đức. Tường xây bao quanh, cách xa trần giới; có hoa tươi tốt, ngào ngạt khói hương.
9.Chùa Thánh Ân trong văn bia Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh
Chùa do Tín nữ Diệu Tính, cháu gọi Thái úy Lý Thường Kiệt bằng cậu, đến lập trang viên ở núi Ngưỡng Sơn cho xây dựng ở phía đông núi. Trong chùa đặt Phật vàng và các vị Bồ tát phò tá hai bên, trải qua bốn năm, công việc mới hoàn thành.

10.Chùa Viên Quang trong văn bia Viên Quang tự bi minh
Chùa Viên Quang do Thiền sư Giác Hải xây dựng vào năm 1137 niên hiệu thiên Chương Bảo Tự năm thứ 5 đời vua Lý Thần Tông. Chùa rất đẹp, các vua Thần tông và Anh tông nhà Lý thường đến thăm.
Bảo điện nghiêm trang vách vàng rực rỡ, bên trong đặt tượng phậtA Di Đà, bên cạnh là Bồ Đề Đạt Ma. Các vị bồ tát đứng hầu tả hữu. Bên ngoài là hai vị Hộ Pháp giơ qua đứng hai bên. Hoành phi đề là Viên quang tự. Lại làm lầu cao bên trong, làm gác chuông, tháp nhạn cao vút, nhà bếp ngang dọc phía sau, thờ tổ sư 6 đời. Cổng chính uy nghiêm sừng sững phía trước, mở ra đường lớn
11.Chùa Diên Linh Phúc Thánh trong văn bia Phụng thánh phu nhân Lê Thị mộ chí
Chùa Diên Linh Phúc Thánh do phi tần của vua Lý Thần Tông là Lê Thị Lan Xuân đứng ra xây dựng trên núi Ngọc Phác (nay thuộc xã Hương Nộn, huyện Tam Thanh, tỉnh Vĩnh Phúc) vào năm 1145 niên hiệu Đại Định đời vua Lý Thần Tông, vừa để hoằng dương Phật pháp vừa để thờ phụng tổ tiên, Được đặc ân thánh chỉ cấp cho thợ thuyền, gỗ ngói. Chùa xây xong uy nghiêm tráng lệ, trở thành nơi lui tới của phật tử một vùng.
12.Chùa Diên Phúc trong văn bia Cổ Việt thôn Diên Phúc tự bi minh
Chùa Diên Phúc còn gọi là chùa Tổng, nay là thôn Cảnh Lâm, xã Tân Việt, huyện Yên Mỹ,  tỉnh Hưng Yên. Chùa do thân mẫu của Thái uý Việt Quốc Công Đỗ Anh Vũ đứng ra xây dựng vàonăm 1156 niên hiệu Đại Định năm thứ 17 đời vua Lý Anh Tông. Chùa được bố cục như sau
Ở giữa là một tòa điện tía, hồi lang mở rộng ở mặt ngoài, trong đặt tượng Đại Bi Quán Thế Âm Bồ tát, hai bên là Văn Thù cưỡi sư tử,  Phổ Hiền cưỡi voi trắng, bên tả là Bà Tẩu tiên nhân (Vasu), bên hữu là Công đức thiên nữ (Sridevi), bậc dưới tòa sen có Tứ Đại Thiên vương hộ vệ, hai bên nhà lang vũ đặt Bát đại Kim Cương . Góc phía trước lang vũ đặt tượng Pháp Thi. Phía trong của tam quan dựng hai tượng Thiện thần Hộ Pháp. Chi sơn hòa thượng, thổ thần đại vương đứng đối nhau ở nhà lang vũ phía trước, bên ngoài lang vũ phía trước thì bên tả dựng lầu cao để treo chuông, bên hữu xây nhà che văn bia. Bên ngoài tam quan đào hai ao hai bên để trồng sen, phía sau chính điện mở một kho để chứa thóc lúa.
13.Chùa Báo Ân trong văn bia Báo Ân thiền tự bi ký
Chùa ở xã Tháp Miếu huyện Yên Lãng, nay thuộc huyện Mê Linh Hà Nội. do một một người họ Nguyễn xuất thân võ tướng đứng ra xây dựng vào năm 1210 niên hiệu Trị Bình Long Ứng năm thứ 6 đời vua Lý Cao Tông. Chùa được mô tả:
Cung cao, điện lớn, cột sơn vẽ rực rỡ, tòa sen lộng lẫy, tượng vàng trang nghiêm, tàn phướn muôn màu. Gác phượng treo chuông lớn, đài rồng treo khánh quý.
***
Qua những mô tả trong văn bia, kết hợp với một số tư liệu hữu quan khác, tôi xin đưa ra một số nhận xét nhỏ dưới đây về kiến trúc Phật giáo thời Lý:

1-Thời Lý, nhiều công trình kiến trúc Phật giáo được làm với quy mô lớn, tráng lệ, do vua, đại sư, đại thần, hậu phi trong triều đình đứng ra xây dựng.

2-Đến thời Lý, đã khá ổn định một phong cách chùa Việt, thể hiện rõ rệt ý thức tự khẳng định mình của Phật giáo Việt Nam trong sự tiếp thu hợp lý các yếu tố mang màu sắc Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Trung Hoa. Chỉnh thể phong cách chùa thời kỳ này thường là kiến trúc điện đường lang vũ và bảo tháp kết hợp với vẻ đẹp của phong cảnh tự nhiên. Sự khéo léo của con người được kết hợp hài hòa với cảnh quan thiên nhiên.

3-Ở thời Lý, mô thức kiến trúc chùa - tháp rất thịnh hành. Tháp còn được gọi là phù đồ. “Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người”. Đây cũng là điện gác dùng để thờ Phật. Tháp thời Lý hoặc ở trung tâm của ngôi chùa (Sùng Thiện Diên Linh), hoặc ở phía sau hay bên cạnh chính điện. Tháp thường có mặt bằng hình vuông, cao 7, 9 hoặc 13 tầng, các tầng có mái cong chìa ra, góc mái treo chuông nhỏ, tường vách thường chạm rồng hoặc sơn vẽ, vật liệu kết hợp cả gạch, đá và gỗ.
4-Bố cục chùa thời Lý thông thường là lấy điện Phật hoặc tháp làm trung tâm, trai đường, lang vũ phối hợp hai bên. Cũng có chùa theo kết cấu tiền hậu tả hữu phối hợp, lớp lớp điện đường sâu vào trong (như chùa Viên Quang). Phía trước thường là lầu chuông, lầu khánh, nhà bia, cổng chính. Đôi khi cổng chính xây thêm gác ở trên làm gác chuông. Tường vây quanh. Sân chùa trồng hoa lá cây cối, trước chùa có ao sen. Quanh chùa trồng thông.
5-Chùa tháp thời Lý đều có mái cong, tùy theo quy mô mà lợp ngói uyên ương, ngói lưu ly hoặc ngói vẩy cá và sườn mái có gắn hình ly vẫn (một loài chim thần) để trang trí và tỵ tà. Chân tảng kê cột đều bằng đá xanh chạm cánh sen tỏa, cột đá thì chạm rồng, cột gỗ thì sơn thếp. Trên tường sử dụng nhiều bích họa về tích Phật, bích họa đều được vẽ ngũ sắc. Phía trước dùng vách gỗ có song con tiện tạo độ thoáng.
6-Trong chùa, bố trí tượng phật không thống nhất. Đặc biệt tượng Phật ở chính điện, nơi là Đa Bảo Như Lai, nơi là Ngũ Trí Như Lai, nơi là Thích Ca Mầu Ni, nơi là A Di Đà, nơi là Quán thế âm Bồ tát. Có lẽ do tùy theo các môn phái song mang nhiều màu sắc Mật tông. Thời kỳ này chưa thấy thờ tam tôn như về sau. Do văn bia không phản ảnh đầy đủ nên chỉ xin nói qua như vậy, chờ các nhà am hiểu cho biết thêm. Tiếp đó là Bồ Đề  Đạt Ma, A Nan, Ca Diếp, Văn Thù, Phổ Hiền, Tứ đại thiên vương. Bát vị Kim Cương, Thập bát La Hán, Thập lục Bồ Tát, Hộ Pháp …, tùy theo quy mô mà chùa ít chùa nhiều. Đến cuối thời Lý, lối bố cục của chùa Diên Phúc như đã mô tả ở trên có lẽ là sự bắt đầu cho một mô thức chung khá thịnh hành về sau. 
7-Tượng Phật thời Lý thường bằng đá, gỗ, đất, được chạm khắc sơn vẽ lộng lẫy sinh động. Tượng ở chính điện hoặc bằng đá, hoặc bằng gỗ, đôi khi bằng đồng, song hầu hết đều thếp vàng, đều đặt trên tòa sen chạm khắc tô vẽ khéo léo, được treo thêm phướn lọng bên trên để tạo vẻ uy nghi. 
8-Chùa thời Lý có nơi người đứng ra xây dựng chùa cho xây thêm nhà thờ cha mẹ tổ tiên để báo hiếu (Chùa Diên Linh Phúc Thánh), điều này sang thời Trần khá phổ biến. Đây có lẽ là nguồn gốc dẫn đến tục gửi giỗ lên chùa trong dân gian, để dần dần tục lệ này kết hợp với việc công đức cúng dường cho nhà Phật mà diễn biến thành tục lập Hậu phổ biến ở các đời sau - một tục lệ tốt chỉ riêng có ở Việt Nam. 
Do hiểu biết về Phật giáo còn rất hạn chế nên tôi chưa thể khai thác hết những gì văn bia cung cấp, đồng thời những nhận xét trên đây có thể cũng rất nhiều sai lầm, rất mong được các nhà am hiểu chỉ giáo thêm và lượng thứ.

Hà Nội 3/3/2011
*Bài viết do nhà nghiên cứu Trần Kim Anh viết và gửi riêng Nguyễn Xuân Diện-Blog.
Xin chân thành cảm ơn tác giả!


-->đọc tiếp...