Blogger Widgets

Thứ bảy, ngày 13 tháng tám năm 2011

CHÙM THƠ VU LAN CỦA TRẦN VŨ LONG


Nhân mùa Vu Lan năm Tân Mão (2011), Nguyễn Xuân Diện - Blog trân trọng giới thiệu 
chùm thơ về mẹ của nhà thơ Trần Vũ Long

Mẹ tập đi


Một đời tần tảo âu lo
Giờ mẹ ốm yếu lò dò tập đi
Nghẹn lòng con lệ tràn mi
Con đau từng bước mẹ đi nhọc nhằn

Trong nhà nào phải xa gần
Mà chia từng đoạn nghỉ chân cho đều
Bàn tay gầy guộc nhăn nheo
Nuôi con bồng bế chống chèo tháng năm

Lo đi lo đứng lo nằm
Nhường cơm sẻ áo âm thầm cho con
Lo cho con ngủ giấc tròn
Lời ru thuở ấy vẫn còn trong veo

Cuộc đời biết mấy gieo neo
Giờ bàn tay ấy lần theo vách tường
Lòng con khấn vái bốn phương
Mong chân mẹ bước bình thường như xưa.

Mẹ


Như một nén nhang gầy
Cháy hết mình vì con
Mỏi mòn thương dáng mẹ
Có về trong khói hương


                              Vu Lan 2009

Trật khấc


Miếng ăn đầu đời con
dòng sữa mẹ

Miếng ăn cuối đời mẹ
thìa sữa trên tay con

Cho con ăn nước mắt mẹ rơi
cho mẹ ăn nước mắt con dụa dàn

Hai dòng nước mắt
như hai trật khấc đời con

Trật khấc con chào đời
trật khấc… mồ côi

Giữa hai lần trật khấc
tuổi con nhớ
tuồi con mong
tuổi con yêu thương
tuổi hành trang con mang suốt đời mình

Hoá


Này mũ
quần áo
vàng mã
con đốt
thành nỗi đau

Tình yêu
lời ru
lệ rơi
tìm về
mẹ

Con đi qua
buồn vui
dại khôn
chưa hết lời mẹ dặn

Trước cuộc đời
thấy mình như đứa trẻ
trước tình mẹ
con vẫn là trắng trong

Mẹ nhẹ nhàng mây khói
để chiều nay
con như hoá tro tàn


Ru mẹ


Những cánh đào rơi vào tuổi mồ côi
con lặng hát ru mẹ
mỏng mảnh những cánh hoa ru mẹ

À ơi
bầu vú
nụ cười

À ơi
tình yêu
nước mắt

À ơi
tóc trắng
vai gầy

À ơi
buồn thương
hạnh phúc

À ơi
à à ơi

Cái giường
cái tủ
chừng muốn ru mẹ
à à ơi

Cả một mùa xuân ru mẹ đêm nay
những nụ đào chớm nở
những cánh đào
                             rơi
                                     rơi
                                            rơi
À à ơi

Câu hát một thuở mẹ ru
con vẫn mang chặn bề giông bão

À à ơi

_______________

Nguyễn Xuân Diện - Blog kính mời chư vị đọc chùm bài về Vu lan tại đây.


-->đọc tiếp...

VẦNG TRĂNG THÁNG BẢY - Tạp văn của Đàm Lan

Vầng trăng tháng bảy
Tạp văn của Đàm Lan

Vầng trăng tháng bảy có thể không khác lắm về độ tròn độ sáng với vầng trăng của các tháng khác. Nhưng trăng tháng bảy mang một ý nghĩa khác, một ý nghĩa rất đặc biệt và thiêng liêng.

Vâng trăng tự thuở nào đã được chọn làm biểu tượng của tình mẹ. Tháng bảy là tháng Vu Lan, cũng là tháng mà người ta nhắc nhiều đến tình mẹ. Nhưng đúng nghĩa của Vu Lan là lễ Tứ Ân Phụ Mẫu. Là sự tôn tưởng cả hai đấng sinh thành. Cha và mẹ, xét cho kỹ đều có trọng lượng ngang nhau. Thiếu một trong hai đều là sự bất hạnh. Nhưng cứ nói đến công sinh dưỡng, nói đến tình cảm gia đình là người ta hay nói về người mẹ. Bởi gần như mẫu số chung của những người mẹ là yêu thương, chăm sóc, tận tuỵ hy sinh, cần mẫn chịu khó chịu khổ. Bởi ngoài công cuộc vượt cạn đau đớn và đầy sinh tử, người mẹ luôn là người phải lo toan hàng nghìn thứ việc vặt vãnh, những thứ việc gắn liền với sinh hoạt của con cái gia đình hàng ngày, chính vì vậy mà cái tiếng gọi “má ơi, mẹ ơi” nhiều hơn ba ơi, và cũng chính vì vậy mà những đứa con cảm giác sự hiện diện của người mẹ trong đời nhiều hơn, gắn bó hơn người cha. Và cũng lại bởi mẫu số chung là cách hành xử của người mẹ hiền hoà thân thiết gần gũi mềm mại hơn người cha. Nhưng mẫu số chung không là tất cả. Vẫn có những khác biệt, vẫn có những người cha hiền hoà thương thiết dịu dàng và chăm sóc con cái cực kỳ tốt, cũng có những người mẹ nóng nảy hấp tấp vị kỷ mà gay gắt hay bỏ bê con cái. Cặp từ kép “Tính cách” có nghĩa tính thế nào thì cách thế ấy. Phụ nữ ngày nay cũng đa chiều xã hội, nên bớt dần sự ẩn nhẫn lặng lẽ và chỉ biết chu toàn một bề trong gia đình, điều này cũng chi phối khá nhiều trong hành xử. Cách thương và chăm lo cho con cái gia đình cũng có khác. Rất ít người biết đến sự chừng mực và đúng cách. Khi luôn để mắt theo những cao trào xã hội, thì lề lối giáo dục con cái cũng biến chuyển theo lăng kính thời đại. Có lẽ ai đó đang nói mình lạc đề. Bởi mục đích của sự tôn tưởng Vu Lan thường dành cho những bậc cao niên hay đã khuất. Không phải đâu. Bởi sự liên kết rất chặt chẽ giữa hôm nay và ngày mai. Những đúa con cho dù thời đại nào cũng phải lớn lên trong sự chăm sóc dạy dỗ của cha mẹ. Và tình cảm có được xem trọng và bền bỉ cũng phải nhờ vào sự gắn bó mật thiết này. Có nhiều than phiền rằng lớp trẻ hôm nay không để tâm đến tình cảm gia đình. Cái chính là bắt nguồn từ cách mà cha mẹ chúng đối xử với chúng. Xã hội ngày càng phức tạp, càng nảy sinh những yếu tố quan ngại với sự non nớt của lớp trẻ, thì lại càng cần lắm cách hành xử của những người làm cha mẹ để tạo bến bờ, bệ phóng vững vàng cho con, và cũng là xây đắp nền móng tình cảm gia đình tốt đẹp. Có một thực trạng đáng ngại đã nảy ra từ rất lâu, đó là sự tranh thủ lôi kéo tình cảm con cái về phe người nắm cán cân kinh tế trong gia đình, dù là cha hay mẹ, nhất là đối với những người mẹ hãnh tiến, có phần nào vị thế trong xã hội, muốn được chứng tỏ mình là người quan trọng, mà không biết rằng sự tác động phản cảm này sẽ làm thui chột tình cảm tự nhiên của con cái, đồng thời phá hỏng cả những hành vi tư tưởng đạo đức căn bản của một con người. Sự chung tay của cả cha và mẹ luôn luôn là sự cần thiết, sự điều phối giao hoà tình cảm giữa cha mẹ và con cái luôn luôn là sự cần thiết. Cần thiết hơn là phải tạo được cho con cái niềm tin và sự tôn trọng yêu kính cả cha lẫn mẹ. Con trẻ ngày nay được hấp thụ nhiều phong cách sống đa dạng, phi truyền thống, nên sự củng cố tâm lý, giữ gìn căn cốt nhân cách rất cần sự nhận thức đúng đắn của cha mẹ. Sự giáo dục tâm lý rất quan trọng, rất quan trọng so với hành động va đập thể xác. Và cũng chính những buổi chuyện trò thân mật cởi mở và đồng cảm lại là những lúc cha mẹ và con cái thân thiết hơn bao giờ hết. Tình cảm cũng được nhân lên rất nhiều, góp phần không nhỏ cho con trẻ có thêm sức đề kháng với cuộc sống đa phức hôm nay.

Vầng trăng tháng bảy sẽ còn luôn sáng trong suốt nghìn nghìn năm sau nữa, những ý nghĩa của nó có còn thiêng liêng trân trọng lâu bền hay không là phụ thuộc hoàn toàn vào sự gìn giữ bồi đắp từ các thế hệ hôm nay cho ngày mai. Và có lẽ cũng không thừa nếu thêm một lần khuyến nghị, rằng: Những người làm con hôm nay hãy đủ suy nghĩ để hiểu rằng mẹ cha không cần sự hiếu thảo của các con khi đã trở thành một ảo ảnh khói hương, mà ngay trong lúc này đây, cần lắm sự yêu kính tôn trọng, chăm lo và ần cần kề cận. Con người ta ở đời lãi lớn nhất là niềm vui, và niềm vui lớn nhất với các bậc cha mẹ là được nhận sự hiếu kính của các con mà mình đã dốc cả một cuộc đời vun đắp.

Hãy để Vầng Trăng Tháng Bảy không chỉ sáng mãi trên bầu trời mà sáng mãi trong lòng mỗi con người hôm nay.

                                                                             ĐÀM LAN
                                                    (Đàm thị Tuyết Lan 74 Y Jut TPBMT
                                                                 Email : damlanbanme@yahoo.com.vn
                                                                 ĐT     :  0985183225)
_________________

Nguyễn Xuân Diện - Blog kính mời chư vị đọc chùm bài về Vu lan tại đây.

-->đọc tiếp...

LỄ VU LAN Ở VIỆT NAM - NHỮNG GIÁ TRỊ NHÂN VĂN ĐẶC SẮC


Lễ Vu Lan: Sự tiếp biến văn hóa – tôn giáo
Nguyễn Xuân Diện
(trích trả lời PV Đài Tiếng nói VN)

Lễ Vu Lan là 1 nghi lễ Phật Giáo được du nhập Việt Nam. Khi Phật Giáo đến với Việt Nam đã nhanh chóng có sự giao hòa với tín ngưỡng Đạo Mẫu và tục thờ cúng tổ tiên của người bản địa từ ngàn xưa.

Sự giao lưu, tương tác này với Đạo Mẫu và tục thờ cúng tổ tiên của Việt Nam đã tạo nét đặc sắc mới cho Lễ Vu Lan và những biểu hiện văn hóa của con người Việt Nam trong toàn bộ nghi lễ Vu Lan được diễn ra trong ngày rằm tháng 7 hàng năm. Nét đặc sắc thể hiện ở chỗ là Lễ Vu Lan chỉ để tưởng nhớ đến cha mẹ, đặc biệt thể hiện đạo hiếu với Mẹ. Nhưng khi đến Việt Nam thì Vu Lan không những thể hiện lòng thờ kính cha mẹ mà còn thể hiện lòng kính trọng tưởng nhớ đối với tổ tiên, và hơn nữa thể hiện sự tương thông cảm ứng đối với các cô hồn vốn không có thân thích với mình. Chúng ta có thể biết điều đó trong có bài Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du.

Từ chỗ tưởng nhớ đến cha mẹ, tổ tiên đã khuất đến chỗ tưởng nhớ tất cả những người đã khuất mà khi sống đã trải qua đủ mọi cung bậc cuộc đời, đến khi chết cũng là khói lạnh hương tàn, bơ vơ cô quạnh. Lễ Vu Lan đã thức tỉnh lòng người dân Việt Nam lòng trắc ẩn với những kiếp người, thể hiện sự thương cảm rất nhân văn mà chúng ta thấy rõ điều đó trong bài Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du cũng như những nghi lễ được tiến hành trong dịp này, ví dụ như đàn mông sơn thí thực, giải oan cắt kết… Một số nghi lễ có những nơi diễn ra đến 3-4 ngày liền, thể hiện tất cả các khoa cúng khác nhau và biểu thị thông qua các nghi thức canh, kệ, tán, tụng trong Phật Giáo.

16h30 ngày 12.08.2011.
Âm thanh trả lời phỏng vấn VOV


-->đọc tiếp...

DIỄN XƯỚNG THANH NHẠC PHẬT GIÁO TRONG NGHI LỄ CẦU SIÊU


 DIỄN XƯỚNG THANH NHẠC PHẬT GIÁO TRONG NGHI LỄ CẦU SIÊU
Nguyễn Đình Lâm

Trong cuốn Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, thanh nhạc được định nghĩa như sau: “Thanh nhạc (Thanh: tiếng; nhạc: âm nhạc), ngành nhạc luyện giọng hát: nghệ sĩ về thanh nhạc”1. Theo chúng tôi, định nghĩa này đúng nhưng chưa đủ. Vậy xin bổ sung và làm rõ thêm: Thanh nhạc là một bộ môn âm nhạc mà ở đó, con người sử dụng thanh đới phối hợp với khoang miệng và mũi làm cơ sở diễn xướng. Tất cả những diễn xướng từ nguồn gốc trên, như hát, gọi, kể, khóc... đều thuộc đối tượng nghiên cứu của thanh nhạc. Vậy, thanh nhạc bao gồm cả những phát âm - diễn xướng kèm theo lời nói, có nội dung truyền đạt một thông tin cụ thể, nhưng cũng có khi chỉ là những âm thanh mà thông tin đơn giản là những tín hiệu dưới dạng nguyên âm đơn hay những hư từ ngẫu nhiên, nội dung không được xác định rõ ràng. 

Nghiên cứu và phân loại thanh nhạc trong nghi lễ Phật giáo, chúng ta có thể tìm được khá nhiều thể loại độc đáo, từ nội dung, tính chất âm nhạc cho tới hình thức diễn xướng. Bài viết này bước đầu đề cập tới bốn thể loại thanh nhạc được coi là đặc trưng và sử dụng phổ biến với thời lượng lớn trong nghi lễ Cầu siêu. Đó là Kinh, Kệ, Canh và Than. 

1. Đặc điểm thể loại

Kinh, Canh, Kệ và Than đều có văn bản, được sử dụng trong nghi lễ Cầu siêu - Phật giáo như một nguyên tắc bắt buộc. Nội dung của những văn bản này được thể hiện bằng cách phối hợp với những giai điệu âm nhạc và được gắn kết chặt chẽ với nhau. Giai điệu của mỗi thể loại được sử dụng như một phương tiện đóng góp tích cực trong quá trình chuyển tải nội dung các điển tích cũng như tôn chỉ của nhà Phật. Thông qua giai điệu âm nhạc mà nội dung được truyền tới người nghe một cách dễ hiểu, dễ tiếp nhận. Xét theo góc độ ý nghĩa sử dụng, thì mỗi nội dung đều có vai trò và vị trí nhất định, gắn chặt với quá trình hành lễ. 

Kinh đóng vai trò quan trọng trong các nghi lễ Phật giáo nói chung, nghi lễ Cầu siêu nói riêng. Theo Từ điển Nho - Phật - Đạo, Kinh là thuận ngữ của cả Phật giáo và Nho giáo2. Riêng Phật giáo, “Kinh là một trong Tam tạng (3 tạng), chỉ các văn hiến ghi chép sự tích điển cố Phật giáo và nội dung thuyết giáo của Phật Đà”3. Vậy, Kinh ở đây được hiểu là kinh sách, học thuyết phản ánh tư tưởng, nhân sinh quan và thế giới quan... của đạo Phật. Phật giáo sử dụng Kinh trong các khoa cúng như một quy định bắt buộc. 

Kinh được phổ biến bằng nhiều hình thức, như giảng, đọc, nói chuyện, nhưng hình thức chủ yếu và thường gặp nhất “tụng” trong các ngôi chùa. Về mặt âm nhạc - thanh nhạc, Kinh được tụng với nhiều âm điệu khác nhau, tuỳ theo vùng miền và tông phái. Đây là đặc điểm nổi bật của âm nhạc Phật giáo Việt Nam nói riêng, âm nhạc truyền thống Việt Nam nói chung trong quan hệ gắn liền với văn hóa và ngôn ngữ bản địa. Giai điệu và tính chất âm nhạc trong Kinh được phụ thuộc và ảnh hưởng trực tiếp từ thanh điệu và ngữ âm trong ngôn ngữ và văn hóa âm nhạc dân gian địa phương. Nói cách khác, Kinh thể hiện được tính phương ngữ rõ nét. Một thí dụ, cũng là Kinh A Di Đà, nhưng giữa các sư tăng khu vực Hà Nội và khu vực Thành phố Hồ Chí Minh tụng có âm điệu hoàn toàn khác nhau4. Các khóa tụng Kinh mà chúng ta có thể nghe từ các sư tăng, hòa thượng phía Nam đọc, có thể dễ dàng nhận thấy ở đó phảng phất âm điệu của những bài Hò sông nước, hay những bài dân ca Nam bộ nói chung. Cũng như vậy, giai điệu trong những bộ Kinh mà các sư tăng, hòa thượng khu vực Hà Nội tụng lại có âm hưởng dân ca vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, khi tập trung lắng nghe, ít nhiều có âm điệu của loại hát Ví. Thậm chí, âm điệu cũng như cách thức tụng cũng có đôi chút khác nhau ngay trong một khu vực, giữa các tăng - ni hay theo ngôi chùa. 

Kinh được sử dụng trong các nghi lễ và thường nhật của Phật giáo. Trong các ngôi chùa, Kinh được cử hành ba khóa một ngày: buổi sáng, buổi trưa và buổi tối. Buổi sáng, khoảng từ 4 - 5 giờ, các tăng - ni thường tụng Kinh Thủ Lăng nghiêm hội, Bát nhã, Hồi hướng và A Di đà; buổi trưa, vào lúc 12 giờ, thường tụng Kinh A di đà, Kinh Sám hối; và vào buổi tối, khoảng từ 6 - 7 giờ, thường tụng Kinh A Di đà và Huân tu. Trong nghi lễ Cầu siêu, Kinh được sử dụng như một quy định bắt buộc trong hầu hết các khoa cúng, từ cúng độ âm (như tiếp linh, triệu linh, giải oan - cắt kết, chạy đàn - phá ngục), cho tới những khoa cúng Phật. Kinh được tụng trong nghi lễ này có nhiều bộ, nhưng phổ biến là Kinh Di đà, Kinh Pháp hoa, Kinh Báo ân và Kinh Thủy sám.

Nếu như Kinh được coi như phép pháp nhà Phật, thì Canh, ngoài bao hàm một phần ý nghĩa trên, còn là phương tiện tôn vinh Đức Phật, đồng thời kết nối người hành lễ với thần linh. Về nội dung, Canh cũng bao hàm một phần nội dung trong các Kinh, sử dụng làm phương tiện thứ hai để răn dạy những tôn chỉ và hóa giải đại chúng hướng tới những chân lý chung của nhà Phật. Canh chủ yếu được tổng hợp dưới hình thức thơ:
“ ... Tiếp dẫn linh hồn nhiên tuệ cự
Đường đường phố phóng ngọc hào quang
Nam mô dẫn linh hồn Bồ Tát Ma Ha Tát (ba lần)5

So sánh với các thể loại thanh nhạc trong nghi lễ Cầu siêu, có thể nói Canh là một đặc trưng, diễn ra với một thời lượng lớn trong toàn bộ nghi lễ. So với âm nhạc trong nghi lễ tín ngưỡng khác, thì Canh là một hiện tượng âm nhạc độc đáo, một trong những đại diện của âm nhạc nghi lễ Phật giáo. Nếu như Hát văn được coi như âm nhạc đặc trưng trong tín ngưỡng Tứ phủ, thì tán Canh chính là một trong những thể loại âm nhạc đặc trưng trong nghi lễ Cầu siêu nói riêng, Phật giáo nói chung. 

Canh có hai loại âm điệu với đặc điểm và tính chất đối lập nhau, đó là Canh Ai và Canh Lạc. Canh Ai có âm điệu buồn, chỉ dụng trong cúng độ âm ở nghi lễ tiếp linh và triệu linh. Canh Lạc có âm điệu vui tươi, hoan hỷ, được dùng trong các khoa cúng Phật. Những người hành lễ khu vực Hà Nội cho biết, hiện nay, tại vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng có ba vùng Canh với ba phong cách tán khác nhau. Đó là Canh Đông (Hải Phòng, Hải Dương, một phần của tỉnh Bắc Ninh và Hưng Yên), Canh Nam (khu vực Nam Đinh, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình) và Canh Hà Nội (chủ yếu khu vực Hà Nội và một phần của tỉnh Bắc Ninh và Hưng Yên). Tại khu vực Hà Nội, hiện nay, là nơi còn lưu giữ được số lượng bài bản Canh khá phong phú và đa dạng. Hiện tại, ở đây còn lưu giữ được khoảng 13 bài Canh ứng với tên gọi cụ thể, gồm: Canh Ai, Canh Giả tổ (Canh Lô hương, Canh Xạ nhiệt), Canh Chí tâm, Canh Phú, Canh Hoàng kim, Canh Thổng, Canh Hãm, Canh Giới đinh, Canh Dương chi, Canh Tả thủ, Canh Hồng tự (canh Cửu hồng), Canh Đông ba và Canh Bảo đỉnh (Canh Đàn thượng). Trước đây, tại khu này còn tồn tại ba “lò” Canh. Đó là lò Canh chùa Bộc, lò Canh Quảng Bá - Tây Hồ và lò Canh chùa Thanh Nhàn. 

Cũng có đặc điểm, cấu trúc và tính độc lập tương đối của một thể loại thanh nhạc, Kệ được đề cập và nghiên cứu như một đối tượng âm nhạc có tính chất, sắc thái và đặc trưng riêng. Kệ thường gắn kết với Kinh và Canh. Trước khi tụng Kinh và tán Canh, bao giờ các sư tăng, thầy cúng cũng đọc những cặp câu Kệ 7 chữ. 

Về mặt âm nhạc, Kệ thể hiện được tính chất và sắc thái riêng khi gắn kết với các thể loại Canh và Kinh. Nếu như mang so sánh với một số thể loại, hình thức âm nhạc dân gian truyền thống khác, thì chúng ta có thể coi sự tồn tại của Kệ như là phần mở đầu của: Bỉ trong Quan họ, Vỉa trong nghệ thuật Chèo và phần Miễu trong Hát nói của của nghệ thuật Ca trù. Do đó, Kệ có quan hệ mật thiết với Kinh và Canh nhưng có những nét riêng ổn định. Về nội dung của Kệ, theo từ điển Nho - Phật - Đạo, thì đó là “Thể văn Phật giáo... Có các loại 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ và 32 chữ. Là văn vần, loại thể tài giống như thơ. Dùng để truyền bá giáo lý Phật pháp”7. Theo cách hiểu này, thì Kệ cũng là một dạng văn bản mang nội dung tư tưởng và triết lý Phật giáo và đời thời được đúc rút, tóm lược dưới dạng thơ hoặc văn vần. Xét về góc độ nào đó, thì Kệ gần giống với hình thức nghệ thuật câu đối đã tồn tại và phát triển lâu đời ở Trung Quốc và Việt Nam. Nếu như ở Trung Quốc, Kệ có các thể/ chữ trên, thì ở Việt Nam hiện nay, Kệ phổ biến là thể gồm có hình thức là 5 từ và 7 từ:
Thân như bóng chớp có dồi không,
Cây cối xuân tươi, thu não nùng.
Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi
Kìa kìa ngọn cỏ ngọn sương đông
                         (Thiền sư Vạn Hạnh (? - 1018);  Ngô Tất Tố dịch6)
Và thể được viết dưới hình thức 5 từ:
Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Sứ sứ tức đao binh
                      ( Thiền sư Pháp Thuận(? - 991)7

Hiện nay, trong nghi lễ Cầu siêu ở khu vực Hà Nội phổ biến dùng các cặp câu Kệ 7 từ. Về vị trí diễn xướng, Kệ chỉ được đọc trước khi tụng Kinh và tán Canh. Các sư tăng thường đọc những cặp câu Kệ trước khi vào tụng Kinh. Mỗi bộ Kinh gắn với một bài Kệ. Trong Canh cũng có Kệ. Trước khi tán Canh, bao giờ các sư tăng, thầy cúng cũng đọc những cặp câu Kệ. Theo đó mỗi loại Canh gắn với một câu Kệ. Chẳng hạn, Canh phú đi với Kệ phú, mà Canh hương đi với Kệ hương. 

Cùng với Canh, Than cũng là một thể loại có nhiều nét độc đáo, tạo nên nét riêng cho không gian thiêng của nghi lễ Cầu siêu. Về mặt nội dung văn bản, Than là một dạng văn tế. Trong lễ Cầu siêu, Than được sử dụng phổ biến trong khoa cúng Cắt kết, khoa Đàn thượng và các khoa cúng Triệu linh, Phát tấu. Nội dung trong các bài Than là những lời kể lể về những cái chết khác nhau, được viết theo thể thơ lục bát hoặc lục bát biến thể. Trong nhiều bài Than được viết, người ta thường nhắc tới bài Văn tế thập nhị chúng sinh của Đại Thi hào Nguyễn Du (1765 - 18228):
.....
Kìa những kẻ chìm sông lạc suối
Cũng có người sẩy cối sa cây
Có người leo giếng đứt dây
Người trôi nước lũ, kẻ lây lửa thành
Người thì mắc sơn tinh thủy quái
Người thì sa nanh sói ngà voi
Có người có đẻ không nuôi
Có người sa sảy, có người khốn thương...
Mỗi người một nghiệp khác nhau
Hồn siêu phách lạc biết đâu bây giờ ?
                                           (Trích)
Đây là bài văn tế cô hồn đặc sắc mà Nguyễn Du đã viết lên bằng nỗi niềm cảm thông sâu sắc tới thân nhân gia đình và những người đã khuất. Thông qua thể văn này, cùng với âm điệu mang đặc trưng riêng, Than đã chuyển tải được tính chất ai oán vì nỗi đau âm dương cách biệt, mà những người hành lễ thay lời gia đình than lên:
Ruột già không kẻ chí thân
Dẫu làm lên được dành phần cho ai
Khi nằm xuống không ai nhắn nhủ
Cửa Phù vân dẫu có như không
Tuy rằng tiền chảy bạc ròng
Khi đi đem được một đồng nào đi…
                                    (Trích theo Nghĩa Mông Sơn Văn tế cô hồn9)

Trên phương diện âm nhạc, Than có âm điệu gần với giai điệu trong Canh ai, cũng có những đặc điểm gần với hát Chèo, nhưng mang sắc thái ảm đạm hơn và tiết nhịp chậm hơn. Tính chất ai oán chính là nét đặc trưng trong thể loại thanh nhạc Than.

Bốn thể loại, Kinh, Canh, Kệ và Than luôn có mối quan hệ gắn kết chặt chẽ với nhau trong quá trình hành lễ. Kinh và Kệ, Kệ và Canh luôn gắn kết với nhau. Đôi khi, vừa thực hiện xong khóa tụng Kinh, các sư tăng, thầy cúng bắt đầu cử hành tán Canh và ngược lại. Tương tự, Than có thể được sử dụng ngay sau hoặc trước khi tụng Kinh, trong từng trường hợp cụ thể. Trong bốn thể loại thanh nhạc này, có ba thể loại là Kinh, Canh và Kệ, trong suốt quá trình hành lễ được luân phiên thay đổi nhau, tạo thành những mắt xích xâu chuỗi lại theo một thể liên hoàn, phục vụ đắc lực cho người hành lễ.

2. Hình thức diễn xướng

Nhìn chung, các thể loại đều có ít nhất một hình thức diễn xướng trùng hợp. Trong bốn thể loại trên, thì Kinh có hình thức diễn xướng phong phú hơn cả. Đó là diễn xướng đơn, xướng - xô và hình thức diễn xướng đồng thanh tập thể. 

Diễn xướng đơn (còn gọi là Mõ một) là hình thức tụng chủ yếu trong các nghi lễ thường nhật của nhà chùa. Hình thức này chỉ dành cho một vị là tăng - ni cùng với cặp chuông - mõ ngồi tụng. Trong lễ Cầu siêu, diễn xướng đơn được phổ biến trong hầu hết các khoa cúng, đặc biệt là trong khi tụng Kinh. 

Diễn xướng theo hình thức xướng - xô, có thể gọi là hình thức nhắc lại, chúng ta thường thấy xuất hiện trong diễn xướng âm nhạc dân gian, như  giao duyên - đối đáp, Hò sông nước và Hò chèo cạn trong dân ca người Việt... Một số người làm âm nhạc chuyên nghiệp và các nghệ nhân gọi người diễn xướng chính trong hình thức này là “xướng”, tức người “sô lô”, còn tập thể đồng thanh xô theo đáp lại gọi là “xô”. Trong nghi lễ Phật giáo, đây là hình thức được xuất hiện trong khoa cúng có sự tham gia của nhiều người, hay trong các nghi lễ lớn, thường gặp nhất trong mùa an cư - kết hạ (tính từ ngày 15, 16 tháng Tư cho tới tháng Bảy Âm lịch) hàng năm. Các tăng - ni thường tập trung lại để học tập và trau rồi Kinh sách. Tại đây, các cao tăng, hoà thượng sẽ thực hiện việc tụng/giảng Kinh; các tăng - ni ngồi phía dưới sẽ thực hiện việc tụng/nhắc lại. ở đây, pháp chủ vẫn là người “cầm trịch”, tụng đơn chính, còn tập thể ngồi phía dưới (gồm tăng - ni hay phật tử)  nghe giảng Kinh sẽ đồng thanh tụng theo (phổ biến và thường gặp nhất) câu cuối của mỗi ý trong phần kết của mỗi câu Kinh. Sau khi kết thúc một hồi Kinh, các tăng - ni thường tụng câu “Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật”, hay “Nam mô lịch đại Tổ sư Bồ Tát” - thì ngay sau đó, các tăng - ni và Phật tử ngồi phía dưới sẽ bắt vào bốn từ cuối, cũng có khi “xô” theo cả câu của phần đó. Trong nghi lễ Cầu siêu, khi sư tăng thực hiện khoa cúng Phật, thì các thầy cúng và thân nhân gia đình (gọi chung là Phật tử) ngồi phía dưới chắp tay vái kết hợp tụng theo những câu cuối của mỗi hồi Kinh; hình thức này còn xuất hiện trong số phần niệm, thỉnh khác. 

Hình thức thứ ba là hình thức diễn xướng đồng thanh tập thể. Đây là hình thức phổ biến trong các nghi lễ Phật giáo lớn. Đồng thanh tập thể cũng xuất hiện vai trò của pháp chủ với tư cách là người “cầm trịch” để dẫn dắt môn tăng, “dàn hợp xướng” vào những câu sau đó của cả một phần tụng Kinh kéo dài. Sau khi pháp chủ kết thúc sáu tiếng mõ và vào những câu đầu tiên thì ngày sau đó, tất cả tăng - ni ngồi phía dưới đồng thanh cùng tụng theo. 

Tương tự như Kinh, Canh được diễn xướng dưới hai hình thức là diễn xướng hai người và diễn xướng đồng thanh tập thể. Diễn xướng hai người ít được phổ biến, chủ yếu diễn ra khi tổ chức một nghi lễ lớn, thời gian cho diễn xướng tán Canh có thể kéo dài hàng tiếng, thậm chí nhiều tiếng đồng hồ (đối với những khoa cúng được thực hiện liên tiếp nhau). Cho nên, các sư tăng, thầy cúng thường phân chia và thay đổi nhau để có thể thực hiện nối tiếp nhau trong một thời lượng lớn. Trong khoa cúng độ âm, đặc biệt là khoa tiếp linh và triệu linh, thời lượng cho diễn xướng tán Canh có thể chiếm 1/2, thậm chí 2/3 tổng thời gian trong toàn bộ khoa cúng. Tuy nhiên, có thể nói, hình thức phổ biến trong diễn xướng tán Canh vẫn là hình thức tập thể. Thông thường, dưới sự điều khiển của pháp chủ, sau khi kết thúc một cặp câu Kệ, các sư tăng, thầy cúng cùng đồng thanh tán Canh.

Nếu như Kinh có tới ba hình thức diễn xướng, thì Kệ chỉ được diễn xướng dưới một hình thức duy nhất là đọc dưới dạng đối đáp. Mỗi cặp câu Kệ sẽ do hai người đọc, mỗi người một câu - theo hình thức Tả - Hữu. Khi vào đọc Kệ, thông thường Pháp chủ là người đọc trước rồi mới tới hai người hai bên. Chẳng hạn một phần diễn xướng trong Canh Lô hương. Pháp chủ đọc: “Đại thánh cứu bạt minh đồ/ Bản tôn địa tạng Vương Bồ Tát”; sau đó tới bên Tả: “Từ bi quảng đại diệu nan lường/ Cứu bạt minh đồ địa tạng vương”; người bên Hữu đối tiếp: “Tích trượng sao thời khai địa ngục/ Thần châu chiểu sứ triệt cung thương”. Như vậy, trong một số khoa cúng, ngoài Pháp chủ đọc câu dẫn, phần Kệ gồm có hai người: bên Tả và bên Hữu.

Gần giống với hình thức diễn xướng của Canh, Than được thể hiện dưới hai hình thức là diễn xướng đồng thanh và diễn xướng nối tiếp đơn lẻ. Đồng thanh nghĩa là cùng một nội dung bài văn tế đó, được cả một tập thể từ 3 - 5 người, thậm chí nhiều hơn, cùng Than. Diễn xướng nối tiếp đơn lẻ là hình thức mà ở đó, mỗi người sẽ thực hiện một đoạn, kết thúc phần của người này thì người khác nối tiếp vào. Trong bài Văn tế Thập loại chúng sinh của Nguyễn Du, khi thực hiện Than, mỗi thầy cúng sẽ than một câu, hoặc kể về một cái chết cụ thể. Chẳng hạn: Người A Than cho vong “Cũng có kẻ đào hang sẻ núi/ Chặn năm ba cây cối rừng xanh/ Hầm sâu đá sập nát thân...”. Kết thúc về vong này, người B sẽ thực hiện một vong khác: “Cũng có kẻ tiền nhi tấm bé/ Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha”, v.v.. Cứ như vậy, lần lượt mười cái chết, mười loại cô hồn khác nhau được các thầy cúng nối tiếp nhau than. Hình thức này phổ biến trong sinh hoạt ca hát đối đáp dân ca ở hầu hết các tộc người trên đất nước ta. Có một đặc điểm dễ nhận thấy trong thể loại Than là, câu kết của một người bao giờ cũng khép lại bằng đoạn: “cô hồn ơi, cô hồn !” 

Như vậy, diễn xướng thanh nhạc trong nghi lễ Cầu siêu có năm hình thức, gồm diễn xướng đơn lẻ, diễn xướng theo cặp hai người, diễn xướng dưới hình thức đối đáp, diễn xướng tập thể và xuất hiện cả hình thức xướng - xô. Tất cả những hình thức này đều có trong các hình thức diễn xướng trong âm nhạc dân gian truyền thống, và trong cả nghệ thuật thanh nhạc chuyên nghiệp. Đây là sự giao thoa, ảnh hưởng và có mối quan hệ gắn kết chặt chẽ giữa đời sống âm nhạc tôn giáo trong quan hệ và ảnh hưởng hữu cơ với âm nhạc gắn với đời sống ngoài tôn giáo.

3. Phối kết hợp với nhạc cụ đệm

Cũng như diễn xướng thanh nhạc truyền thống hay chuyên nghiệp ngoài tôn giáo, trong nghi lễ Cầu siêu nói riêng, các nghi lễ Phật giáo nói chung cũng có hai hình thức không nhạc đệm và hình thức có nhạc đệm. Trong tụng Kinh, trường hợp không nhạc đệm có trong hầu hết các bộ Kinh, nhưng với thời lượng ngắn. Ngay khi thực hiện khoá tụng Kinh A Di Đà trong lễ Thí thực, thì mở đầu của phần tụng không sử dụng nhạc cụ. Trong đoạn: “Nguyên thử hương yêu yên vân/ Biến mãn thập phương giới/ Vô biên Phật độ trung/ Vô lượng hương trang nghiêm/ Cụ túc Bồ Tát đạo/ Thành tự Như Lai hương (cúi đầu...)...” không sử dụng nhạc cụ. Tại phần mở đầu của khoa cúng này có tới ba đoạn tương tự như vậy không sử dụng nhạc cụ đệm. 

Tuy nhiên, phần lớn các tăng - ni tụng Kinh gắn liền với nhạc cụ đệm, ở đây là chuông và mõ. Mỗi từ trong Kinh sẽ trùng với một tiếng mõ; nhịp độ của người tụng nhanh hay chậm, giữa hai yếu tố này đều tỷ lệ thuận với nhau. Trong suốt quá trình hành lễ, chuông, mõ và lời của Kinh là một thể thống nhất, gắn kết chặt chẽ với nhau. Mở đầu của các khoa cúng hoặc buổi tụng Kinh, bao giờ các sư tăng cũng phải điểm những hồi chuông, tùy theo từng nghi thức. Kết thúc một hồi chuông, các tăng - ni bắt đầu tụng Kinh và đồng thời mõ cũng bắt đầu điểm. Mõ đóng giữ vai trò giữ nhịp, vừa với tư cách là một pháp khí, “vật thiêng”, đồng thời là khí nhạc đệm cho diễn xướng tụng Kinh (về mặt âm nhạc). Chuông cũng thể hiện vai trò riêng, là nhạc cụ có vai trò chấm câu, ngắt câu và, trong nhiều trường hợp, gần như chiếc trống trầu trong nghệ thuật Ca trù. Mở đầu, kết thúc một khoa cúng, hay mỗi khi tụng Kinh thì bao giờ người ta cũng rồn một hồi chuông. Các đoạn nhỏ của mỗi câu Kinh kết thúc thường được đánh dấu bằng một tiếng chuông báo hiệu. Như thế, chuông, mõ và từng tiếng Kinh cứ thế mà gắn kết chặt chẽ với nhau như xương với thịt không thể tách rời, tạo cho không gian thiêng của mỗi khoa cúng một sắc thái riêng và thêm uy nghi hơn. 

Riêng tán Canh, việc sử dụng nhạc cụ là một quy định bắt buộc. Các nhạc cụ dùng phổ biến trong tán Canh là các họ màng rung10 (trống lớn, trống bản), tự thân vang (chuông, mõ, thanh la, não bạt, tiu - cảnh), họ hơi có kèn, và họ dây có đàn nguyệt và đàn nhị. Theo đó, mõ và chuông giữ vai trò cầm trịch, giữ nhịp chính và được điều khiển bởi pháp chủ; nhị có chức năng đi giai điệu cùng với Canh; đàn nguyệt đi hoà thanh chiều ngang; kèn thường diễn tấu vào những đoạn lưu không, những điểm nghỉ dài; còn trống, thanh la và não bạt có chức năng tạo và giữ nhịp. Riêng cặp tiu - cảnh được coi là bộ khung xương, là điểm tựa tạo nên nét đặc trưng trong nghệ thuật tán Canh. Mối quan hệ giữa tán Canh và hai nhạc cụ này là quan hệ hữu cơ không thể tách rời. Người ta không bao giờ tán Canh khi không có hai nhạc cụ này đi cùng. Ngoài cặp tiu - cảnh, đôi khi chúng ta còn thấy người hành lễ sử dụng thêm cả hai chiếc trống lớn và trống bản để đánh theo nhịp của tiu - cảnh, tạo hiệu quả âm thanh và tạo không gian trang trọng hơn. Thông thường, trống luôn là nhạc cụ phụ thuộc vào cặp tiu - cảnh. Tuy nhiên, trống thường đệm theo âm luật thưa hơn, tiết tấu nhiều khi bị lược bớt đi và chủ yếu đệm vào trọng âm, thường là vào đầu của phách mạnh. Về loại nhịp, nhìn chung, sử dụng trong Canh nói riêng, trong các thể loại âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo nói chung thống nhất sử dụng loại nhịp một. Trong những phần mở đầu và kết thúc tán Canh, người ta thường sử dụng các nhạc cụ trên để hòa tấu theo nhịp trống pháp lôi, trống dẫn lục cúng, trống thượng đường hoặc trống sai. 

Kệ không sử dụng nhạc cụ đệm theo, theo đó xếp vào hình thức không nhạc đệm. Nhạc cụ chỉ được diễn tấu trước khi các sư tăng, thầy cúng tiến hành đọc Kệ. 

Nếu như Canh, Kinh và Kệ được sử dụng đúng theo quy định bắt buộc, tức là  bắt buộc có hoặc không được sử dụng nhạc cụ đệm, thì trong Than có thể có hoặc không cần nhạc đệm, không bắt buộc. Nếu có nhạc cụ đi cùng thì thường là nhị, đàn nguyệt và trống ban để tạo và giữ nhịp. Lúc này, nhị sẽ kéo theo giai điệu của người Than, còn đàn nguyệt thì có chức năng đệm hoà sắc. Trống ít được sử dụng, bởi trên thực tế, Than là thể loại theo nhịp điệu tự do, không phân chia nhịp một cách rõ ràng. Nên người ta chỉ sử dụng trống vào những đoạn đổ dồn hoặt kết thúc mỗi phần Than. 

Như vậy, có thể thấy, Kinh, Canh, Kệ và Than sử dụng trong nghi lễ Cầu siêu được phổ biến với nhiều hình thức khác nhau, với những phương tiện trình tấu, đi cùng là những nhạc cụ được hoà tấu theo những nguyên tắc, quy định riêng. Những phương thức phổ biến này được nhìn nhận như một đối tượng nghiên cứu, chứa đựng nhiều giá trị thẩm mỹ và những khía cạnh khoa học có giá trị cần được đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu. 

*
*         *  

Những phân tích bước đầu về một số thể loại thanh nhạc đặc trưng, phổ biến trong đàn lễ Cầu siêu cho thấy, thanh nhạc đã thể hiện được sự phong phú về hình thức và độc đáo về thể loại. “Thanh nhạc” xuất hiện trong đàn lễ có vị trí quan trọng, có quy định bắt buộc trong nghi lễ Phật giáo, có quan hệ hữu cơ không thể tách rời với các bước lễ và khoa cúng trong quá trình hành lễ. Ngoài những thể loại diễn xướng trên đây, còn một số thể loại khác, như “đọc” các câu phát hỏa, thiết dĩ, thỉnh Phật, những câu niệm chú... mà chúng tôi còn chưa đề cập. Mặc dù, những phân tích trên đây còn chưa đi sâu về mặt âm nhạc học như thang âm, điệu thức hay cấu trúc câu đoạn để giải mã nét đặc trưng trong từng thể loại, nhưng với những khái quát trên, phần nào chúng tôi cũng đã diễn giải bước đầu những vấn đề cơ bản về đặc điểm của từng thể loại trong nghi lễ này. Chúng tôi sẽ dành một phần chuyên sâu để phân tích những đặc điểm âm nhạc trong những thể loại thanh nhạc trên ở một phần viết sau.
N.Đ.L

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Lân, Từ điển Từ và ngữ Việt Nam, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh - 2000
2. Lao Tử và Thịnh Lê, Từ điển Nho - Phật - Đạo, Nxb. Văn học, Hà Nội - 2001
3. Tạp chí Khuông Việt, số 1 (2007) và số 3 (2008)
4. Lưu hành nội bộ Nghĩa Mông son Văn tế cô hồn, Thầy cúng Bùi Văn Nam, thôn  Kiến Hạ, xã Kiến Hưng, Tp. Hà Đông cung cấp
5. Khóa tụng Kinh A Di Đà Thí thực (Lưu hành nội bộ), Tư liệu do Kỷ Khiêu Thích Thanh Phương, Chùa Đống Lim, Long Biên - Hà Nội cung cấp
6. Khoa Thỉnh Phật, Khoa Nhiếp Linh, Khoa Triệu Linh, Khoa Chúc thực, Khoa Phóng sinh - Thí thực, Tư liệu được cung cấp bởi Kỷ Khiêu Thích Thanh Phương, Chùa Đống Lim, Long Biên - Hà Nội
7. Tư liệu điền dã


* Bài do tác giả Nguyễn Đình Lâm gửi cho Nguyễn Xuân Diện - Blog. Bài đã đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 12/2008.


-->đọc tiếp...

LỄ VU LAN, NHỚ MẸ

Lễ vu lan, nhớ Mẹ
Phùng Hoàng Anh

Mỗi chúng ta sinh ra, trưởng thành, tuổi già đến, bệnh tật rình rập, rồi cái chết đón chúng ta trở về  cõi vĩnh hằng, trở về với đất mẹ, trở về với cát bụi, đó là một qui luật bất biến của tạo hóa. Ai cũng phải vui vẻ đón nhận qui luật ấy một cách tự nhiên.

Từ ngày mẹ tôi mất đến nay, thỉnh thoảng về thăm nghĩa trang, viếng mộ mẹ, tôi thấy có quá nhiều những ngôi mộ mới, hoa vẫn còn tươi, hỏi ra mới biết toàn là những người con của làng vừa mới ra đi. Sự ra đi của mỗi người đều có nguyên nhân khác nhau, người trẻ tuổi thì mất do tai nạn giao thông, người trung niên thì do uống quá nhiều rượu dẫn đến ung thư gan, những người khác đều mắc chứng bệnh ung thư, sau cái mất của mẹ, tôi liệt kê những người đã khuất sau mẹ, rất nhiều người bằng tuổi mẹ, dưới tuổi mẹ và trên tuổi mẹ một chút đều ra đi do chứng bệnh ung thư quái ác hoành hành. Xã hội ngày càng phát triển, kinh tế khấm khá hơn trước, đời sống sung túc hơn trước, tuổi thọ gia tăng hơn trước, dân số Việt Nam đang già đi. Đó là điều mừng hơn ông cha ta ngày xưa, các cụ đến tuổi 50 là làm lễ ra đình, nhưng bây giờ 60 tuổi mới nghỉ hưu theo chế độ, 70 tuổi  mới gọi là chớm già, 80 tuổi bắt đầu già, 90 tuổi mới là coi là già thực sự. Trong những năm gần đây, số người đã ra đi ở làng tôi có tuổi đời còn rất trẻ, họ vẫn còn đang trong độ tuổi lao động ở thôn quê, một số thoát ly thì vẫn còn đương tại chức, nhưng cái chết thì đều chung một thứ bệnh, ấy là bệnh ung thư.

Mỗi lần về thăm quê, các ông các bà trong làng đến chơi nhà tôi, thường xuyên thăm hỏi động viên cha con tôi sớm vượt qua nỗi đau mất vợ, mất mẹ của gia đình tôi, các ông các bà thường an ủi cha con tôi bằng những lời than thở:

- Chẳng hiểu sao, mấy năm trở lại đây, người làng mình sao mắc chứng bệnh ung thư nhiều thế ! Không hiểu do ăn uống phải nguồn nước ngầm không đảm bảo vệ sinh hay do nguồn không khí bị ô nhiễm từ nguồn khí thải của nhà máy hóa chất ở thành phố V.T thải ra. Những ngày có gió, một bầu không khí thối đến khó tả lan tỏa trong bầu khí quyển chung mà người dân quê tôi vẫn hằng ngày hít thở. Nhưng chẳng ai quan tâm, thối cũng phải ngửi, ô nhiễm cũng phải chịu, bởi không thể dời nhà đi đâu được để tránh khỏi khu vực ấy, vậy là cam chịu. Chỉ đến khi, có quá nhiều người trẻ tuổi ra đi do mắc chứng bệnh ung thư thì người ta mới đặt câu hỏi, do ô nhiễm nguồn nước hay do ô nhiễm không khí, điều đó xin nhờ các nhà khoa học, các nhà quản lí nhanh chân vào cuộc… ?

Còn tôi và các em tôi thì vĩnh viễn mất đi người mẹ yêu quí của mình vào lúc 5 giờ sáng ngày 30 Tết năm Canh Dần. Mẹ tôi ra đi, khiến anh em chúng tôi quá bàng hoàng, chưa có sự chuẩn bị về tâm lý, khi ấy cả đất nước đang náo nức đón chào một cái Tết lịch sử, một mùa xuân mang trong mình rất nhiều sự kiện trọng đại của đất nước, sự kiện 80 năm ngày thành lập Đảng, sự kiện thủ đô Hà Nội và cả nước đón chào đại lễ kỉ niệm 1000 năm Thăng Long…Cả đất nước và toàn thể nhân dân đang vui tươi phấn khởi đón chào mùa xuân mới thì gia đình bé nhỏ của tôi lại phải lặng lẽ tiễn đưa người thân nhất của mình đi xa, thật xót xa biết nhường nào! Tôi chỉ thấy bà con quê tôi, những người sống gắn bó trong làng đã tận tình, tận nghĩa bỏ cả việc nhà bận bịu ngày 30 Tết để đến chia sẻ nỗi đau lớn của gia đình tôi vào giờ phút thiêng liêng ấy, tiễn đưa một người con của làng trở về cõi vĩnh hằng. Trong lúc đau buồn ấy, tôi chỉ cảm nhận được tình cảm của người thân trong họ tộc nội ngoại, những người dân quê tôi, và những người bạn của anh em chúng tôi đã dành cho mẹ tôi tất cả sự kính trọng, mẹ tôi ra đi trong sự tiếc thương của muôn người, nhiều vãi già đi đưa tang cũng rưng rưng khóc, tiếc cho sự ra đi quá sớm của mẹ khi tuổi đời còn rất trẻ, tôi tự hào về điều ấy. Cả đời mẹ lam lũ với ruộng đồng, làm bầu bạn với nhà nông trong làng, không giữ một trọng trách gì, một nông dân thuần túy, nhưng mẹ đã để lại trong lòng nhiều người những tình cảm tốt đẹp và sự tiếc thương bằng chính nhân cách của mẹ. Mẹ luôn luôn  chịu phần thiệt thòi trong các quan hệ, kể cả với họ hàng nội ngoại cũng như hàng xóm, láng giềng. Mẹ thường khuyên chúng tôi hãy sống trung thực, mẹ lấy nhiều dẫn chứng để chứng minh cho luật nhân quả, chúng tôi thấm thía những bài học mẹ đã dạy. Mẹ ra đi vĩnh viễn rồi! Nhưng những gì mẹ dạy dỗ chúng con, chúng con sẽ mãi khắc ghi trong lòng, và mỗi anh em chúng con sẽ gắng thực hành những điều mẹ dạy bảo.

Mùa Vu lan năm nay đã là năm thứ hai anh em chúng tôi không còn mẹ, nỗi đau không gì bù đắp nổi, không còn mẹ u ấp mới thấy trong lòng mình rất trống trải, sự thiếu vắng mẹ là những tổn thất lớn về tinh thần. Mẹ không còn nữa, mùa Vu lan lại đến, con viết những dòng này gửi mẹ ở nơi xa thẳm hiểu tấm lòng của chúng con đang hướng về mẹ. Cầu chúc cho tất cả cả bà mẹ đang còn sống được bách niên giai lão. Chúc cho muôn nhà bố mẹ, ông bà được trường thọ, con cháu được sum vầy. Mỗi gia đình là một xã hội thu nhỏ, nhiều gia đình hạnh phúc thành đạt, con cháu tứ đại đồng đường, sống có ích, sống vui sống khỏe, là hạt nhân cho đất nước tiến bộ và phát triển, thịnh vượng.
_____________
Nguyễn Xuân Diện - Blog kính mời chư vị đọc chùm bài về Vu lan tại đây.


-->đọc tiếp...

CHỮ HIẾU - XƯA và NAY

Chữ hiếu xưa & nay

 “Hiếu tâm tức thị Phật tâm,
Hiếu hạnh vô phi Phật hạnh

Một thông điệp ngắn nhưng hạt giống nhân bản vô cùng lớn, trên hết là tính cách mạng về giáo dục đạo đức của Phật giáo. Bậc Đạo Sư khi dạy điều này Ngài đã đặt mình ở vị trí của một người làm con nói về hạnh hiếu, chứ không phải ở vị trí của bậc đã viễn ly sanh tử. Ngài dạy rằng Thế Tôn cũng là người đại hiếu và tất cả các con cũng phải như vậy: “Khể thủ tam giới chủ, đại hiếu Thích Ca văn” (sớ Vu Lan), tâm hiếu tức tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật. 

Hiếu tâm- hiếu hạnh là cội nguồn của đạo làm người trên nghĩa tuyệt đối để thành tựu những con người với nhân cách cao thượng. Đạo hiếu là con đường, là chân lý, là phương thức,là cách sống, là cứu cánh viễn ly điên đảo mộng tưởng, là giềng mối cho sự thịnh trị quốc gia và hạnh phúc xã hội.

Gương hiếu xưa

Chữ hiếu xưa nay được dạy nhiều trong cả hai nền văn hóa Đông Tây, như trong Phật giáo số lượng các bài kinh hiếu hạnh rất lớn và nằm tản mát trong Tam Tạng,  sự ra đời những bài kinh hiếu hạnh mà Phật dạy luôn có nhân duyên xuất hiện đặc biệt.

Câu chuyện tiền thân “Hiếu Tử Sàma”[1]. Có chàng trai thuộc gia đình giàu có ở thành Xá-vệ, vì mộ đạo nên xuất gia. Khi xuất gia một thời gian và làm Tỳ-kheo, gia đình của thầy lâm vào cảnh khốn khó, cha mẹ thầy phải lang thang xin ăn, khi hay tin cha mẹ như vậy, sầu thương nổi lên và thầy buồn khóc thật nhiều, nghĩ rằng mình phải trở về gia đình để lo cho cha mẹ. Nghĩ vậy,trên đường hoàn tục để quay lại quê nhà tại Xá-Vệ, thầy đã đến Kỳ Viên để đảnh lễ Phật lần cuối,  quán thấy những bất an của vị Tỳ-kheo này nên bậc Đạo Sư đã dạy, một người con đi xuất gia vẫn lo được cho cha mẹ mình. Hôm sau trên đường về, thầy đã gặp cha mẹ đang ngồi xin ăn bên vệ đường, thầy không kìm lòng được và đã cúng dường hết cho cha mẹ phần thức ăn mà thầy đã khất thực, hôm sau thầy cũng phụng dưỡng cha mẹ bằng cách đó. 

Việc làm này của thầy đã gây ngờ vực cho các thầy khác,  rồi đem chuyện này trình lên đức Phật, Phật cho gọi vị Tỳ-kheo trẻ đến và hỏi: “ Có phải ông đã xuất gia mà còn lấy vật cúng dường của thí chủ đem cho người thế tục không?đó là người thế tục nào?. Thầy đáp: Bạch Thế Tôn, có, đó chính là cha mẹ của con”. Phật tán thán việc làm đó và dạy:  “Lành thay! Ông đang đi con đường ngày xưa Ta đã đi qua, ngày xưa khi đi khất thực Ta cũng phụng dưỡng cha mẹ Ta”.

Các vị Tỳ-kheo khi xuất gia tu hành, dù cắt ái từ thân thực hiện nếp sống viễn ly, nhưng trên phương diện đạo đức xã hội, phụ mẫu tình thâm nên vẫn phải làm tròn bổn phận đạo con. Thời Đức Phật còn tại thế, mỗ khi biết vị Tỳ-kheo nào có hiếu với cha mẹ Ngài đều tán thán, vì trải qua vô lượng a tăng kỳ kiếp, tiền thân của Phật cũng là hiện thân của người con đại hiếu, như trong chuyện tiền thân “Cánh đồng lúa”, đức Phật từng hóa thân làm chim Oanh Vũ hàng ngày đi kiếm lúa về nuôi cha mẹ mù.

Vào thời đức Phật có Tôn giả Tất- Lăng-Già-Bà-Ta, sau khi xuất gia hành đạo, nhưng còn cha mẹ già yếu, nghèo khổ không ai nuôi dưỡng. Ngài muốn đem y phục và thực phẩm cúng dường cha mẹ, nhưng vì sợ phạm giới luật. Ngài bèn trình bày nỗi băn khoăn của mình lên Thế Tôn. Nhân đó, đức Đạo Sư họp các Tỳ-kheo và truyền dạy: "Nếu có người nào suốt cả trăm năm, vai phải cõng cha, vai trái cõng mẹ, và dù cha mẹ có đại tiểu tiện trên vai mình, cũng chưa thể gọi là làm tròn hiếu đạo. Hoặc đem những thứ y phục và ẩm thực quý nhất trên đời cung phụng cha mẹ cũng chưa đủ báo đền công ơn cha mẹ trong muôn một. Từ nay Ta cho phép các Tỳ-kheo suốt đời hết lòng cúng dường cha mẹ. Nếu ai không cúng dường thì phạm tội nặng” (Luật ngũ phần)[2]. 

Viêt Nam ngày trước, đạo hiếu có lúc được quy định rõ trong hiến pháp, sự tiến bộ của hình pháp đã có từ thời Lê Sơ thông qua “Quốc triều hình luật”[3] hay gọi là Bộ luật Hồng Đức, cán cân luật pháp thể hiện tính nghiêm minh thông qua quy phạm của luật hình sự,  các tội nặng nhẹ được phân định rõ ràng, đặc biệt các tội được gọi là "tội ác" gồm có 10 loại: "Thập ác"

Điều 7 trong thập ác quy định về tội bất hiếu: “ Bất hiếu là các tội tố cáo hoặc dùng lời lẽ để chửi mắng, bỏ đói, bỏ rét ông bà, cha mẹ, hoặc khi có tang ông bà cha mẹ lại không để tang mà nhởn nhơ vui chơi”. Người phạm tội bị phạt đồ hình, đày đọa làm việc nặng nhọc, bắt làm khao binh vụ cho lính ở chiến trường, và trước khi đưa đi đày, kẻ bất hiếu bị đánh 80 trượng trước xóm làng để răn đe thói hư bất hiếu.

Đến triều Nguyễn, tấm gương hiếu hạnh được nhắc nhiều là vua Tự Đức, nói về chữ hiếu mà không nhắc đến vua Tự Đức là một thiếu sót, vua Tự-Đức Là vị vua có Hiếu[4] với mẹ bậc nhất trong 13 vị Hoàng đế Triều Nguyễn.

Trải qua 36 năm làm Vua trên ngai vàng, Vua Tự-Đức lúc nào cũng dành ngày chẵn vào cung để vấn an sức khỏe mẹ, đồng thời nghe lời truyền bảo của mẹ, nếu có điều gì quan trọng đáng lưu tâm thì ghi ngay vào quyển sổ tùy thân mà nghiền ngẫm. Đó là, quyển sổ từ huấn lục- quyển sổ chép lời mẹ dạy. Còn ngày lẻ thì lo việc triều đình, chớ không vì làm Vua có vạn năng quyền thế mà lơ là bổn phận làm con. (Tìm Hiểu Các Danh Nhân - Nguyễn Phú Thứ)

Có lần, ngày mai là đến kỳ giỗ kỵ tiên đế Thiệu-Trị, thế mà hôm ấy Vua Tự-Đức ham đi săn bắn, gặp nước lụt chảy xiết mạnh bất ngờ, Vua quan chưa dám dùng thuyền hồi cung, phải mắc kẹt chốn ngoại thành thuộc rừng Thuận-Trực. Bà Từ-Dũ sai quan Nguyễn-Tri-Phương đi rước, khi vào cung, vua biết lỗi, dâng roi, nằm xuống chờ quở phạt. Bà Từ-Dũ giận, quay mặt chẳng nói một lời, sau đó mới tha cho hình phạt, chỉ trách dạy bằng lời mà thôi. ( trích nt)

Trong Đại Nam Nhất Thống Chí, bộ sách lịch sử địa lý của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, biên soạn thời Tự Đức, có thuật lại tấm gương hiếu của Thiền Sư Nhất Đinh, khi mẹ thầy bị bịnh nặng, Thiền Sư lặn lội lập An Dưỡng Am để cõng mẹ về cùng nương nấu và cũng thuận đường tu tập. 

Mẹ Ngài ngày thêm bệnh nặng, được y sư khuyên rằng cần phải bồi bổ cho bệnh nhân bằng thịt hoặc cá mới mong khỏi, hằng ngày Sư chống gậy băng rừng lội bộ xuống chợ cách đó hơn 5 cây số để mua cá và buộc vào đầu gậy mang về am thổi cháo hầu mẹ, lần hồi bệnh thuyên giảm...  vì xuống chợ mua cá mà bị đời đàm tiếu vì họ không hiểu. Lâu ngày, chuyện đến tai Vua Tự-Đức, Vua sai người theo dõi, tìm hiểu hư thực.  Vốn cũng là vua hiếu nên khi biết hoàn cảnh của thiền sư, vua rất quý kính, cung cấp lương thực cho Sư nuôi mẹ, và cho tu bổ An Dưỡng Am rồi ban biển ngự đề "Sắc Tứ Từ Hiếu Tự". Kể từ đó, An-Dưỡng-Am trở thành chùa Từ Hiếu lưu danh đến ngày nay.

Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, có hai việc làm cho phàm phu được công đức lớn, được quả báo lớn, được vị cam lồ, đến chỗ vô vi, đó là phụng sự cha và phụng sự mẹ. Phụng sự cha mẹ được công đức lớn, được quả báo lớn như cúng dường cho vị Bồ Tát chỉ còn một đời nữa là thành Phật. Vì vậy, các thầy phải luôn luôn ghi nhớ mà hiếu thuận phụng sự cha mẹ”.

Chữ hiếu nay, nhìn nhận đôi điều..

Khi những cơn nắng dâng oi bức của sa mạc triều khô mùa hè đang dạt về những đợt thịnh nộ yếu ớt cuối cùng để làm nhịp cầu cho những hạt mưa ngâu bắt đầu rơi, là lúc tiết trời đang ở giữa lưng chừng của đại thử và lập thu, cũng là lúc sắp mãn cửu tuần an cư kiết hạ tịnh tu Tam nghiệp thúc liễm thân tâm của hàng Tứ chúng đệ tử Phật, là bắt đầu mùa hiếu hạnh tưởng nhớ những đấng sinh thành “Thương cha xuôi ngược giữa dòng, mẹ yêu tất tảo gánh gồng nuôi con”, cũng là mùa bạt theo độ truyền thống nhân gian:

Tiết đầu thu lập đàn giải thoát,
 Nước tĩnh đàn sái hạt dương chi,
Muôn nhờ đức Phật từ bi,
Giải oan cứu khổ độ về Tây Phương”. 
 (Văn tế thập loại chúng sanh- Nguyễn Du)

Chữ hiếu ở mỗi thời khác nhau, do sự khác biệt ý thức hệ và hành trạng xã hội luôn đặt sự nhận thức khác nhau về bổn phận trách nhiệm của người con phải hành xử như thế nào cho trọn tình hiếu nghĩa với cha mẹ, trong quan hệ với tình anh em, đồng bào,tổ quốc. 

Chính vậy, trong buổi giao thời chữ hiếu rất hệ trọng, ngày nay kỹ nghệ thông tin bùng nổ như thác lũ, chúng ta sẽ tiếp nhận rất nhiều nguồn thông tin: internet, truyền hình, báo, di động…trong dòng thác đó, tốt có, xấu có..sự thông tin qua lại trong gia đình từ đó ngày một giảm dần, con cái ít nhận thông tin từ cha mẹ, lơ là hiếu đạo, tình cảm xa cách.

Người ta dự báo rằng, hiện tại cũng như tương lai, thân tướng con người sẽ như que diêm, nhưng bộ não sẽ phải phì đại như trái bóng vì nạp lượng thông tin quá lớn, mặt trái của nó, thức ăn là lượng thông tin nhưng đầy dẫy những con virus, kết nối cuộc sống trên cộng đồng mạng và tìm quên trong thế giới ảo, xa rời đời sống thực tại, xa rời cội nguồn văn hóa tâm linh truyền thống, làm trật tự xã hội bị đảo lộn, cha mẹ ít có điều kiện gần gũi, chữ hiếu bị lãng quên.

Cuộc sống hối hả, tình người hời hợt, kẻ sống đua đòi, háo danh, lắm lúc quên đi tình cảm thiêng liêng nhất là gia đình, quên rằng mình chỉ có duy nhất một người cha và một người mẹ trên đời, đức Phật dạy: Này các Tỳ kheo, không dễ gì tìm thấy một chúng sanh chưa từng là cha, là mẹ, là anh, là chị, là con trai, là con gái của các Thầy trong bước đường dài của sự tái sanh”. (Tương Ưng Bộ Kinh II)

Gia đình, nơi có cha, có mẹ,có anh, có em.. vốn là nơi kết nối ân tình, là mầm móng yêu thương và phát triển nhân cách, là nơi chốn bình yên mỗi khi ta tìm về thì nay ta đã vô tình quên lối, từ đó mới xảy ra nhiều những sự việc đau lòng cho xã hội. 

Chuyện bao đời nước chảy xuôi chứ chẳng bao giờ chảy ngược, cha mẹ khổ nhọc sớm hôm tần tảo nuôi con ăn học thành tài, làm ông này, bà nọ..là chuyện thường, nhưng khi con thành tài chăm lại cha mẹ không phải là nhiều, thậm chí chuyện con làm phật lòng cha mẹ, có kẻ nghịch tử còn đánh cha chửi mẹ, chuyện đó không phải ít trên các báo hằng ngày. 

Một người con có hiếu, sẽ biết phải làm gì để cha mẹ vui lòng, ngược lại bổn phận người làm cha mẹ cũng phải biết làm sao để con nên người. Khi con cái không cần biết cha mẹ thích gì, cần gì..vì cái gọi là tổ ấm hạnh phúc riêng tư mà quên bẵng đi cha mẹ mình, tới tháng dấm dúi vào tay cha mẹ vài đồng như một cái máy gọi là xong trách nhiệm,  đợi khi cha mẹ qua đời thì làm tang ma thật lớn, sự hiếu thuận tưởng chừng đã muộn nhưng không là chuyện hiếm thời nay.

Nhớ câu chuyện “Đôi mắt người mẹ” đọc được trên mạng:“Có một người lúc nào cũng căm ghét mẹ mình, vì bà nghèo, xấu, lam lũ và chỉ có một con mắt. Người con này học hành chăm chỉ nên được du học, thành đạt và có vợ con, thỉnh thoảng anh ta gởi tiền về và mua căn nhà nhỏ cho bà, rồi tự nhủ đã làm tròn bổn phận, cắt đứt mọi liên lạc với bà.
 
Ngày kia có một bà già lam lũ đến trước cửa nhà anh ta, làm mấy đứa con anh ta hoảng sợ, anh ra quát Hồi nhỏ, đã làm cho con bị chúng bạn trêu chọc nhục nhã, bây giờ còn định phá hỏng cuộc sống của con hay sao? bà nói xin lỗi vì tôi nhầm địa chỉ và lặng lẽ đi.

Rồi bà qua đời trong hiu quạnh không ai hay biết, bà để lại một lá thư cho người con trai.

"Con yêu quý! Lúc nào mẹ cũng nghĩ đến con. Mẹ xin lỗi và ân hận về việc đã làm cho con xấu hổ và các cháu sợ hãi. Con biết không hồi con còn nhỏ, con bị tai nạn và hỏng mất một bên mắt, nên mẹ đã cho con con mắt của mẹ. Mẹ đã bán tất cả những gì mẹ có để bác sĩ có thể thay mắt cho con, nhưng chưa bao giờ mẹ hối hận về việc đó. Mẹ rất hãnh diện vì con đã nên người, và mẹ kiêu hãnh vì những gì mẹ đã làm được cho con. Con đã nhìn thấy cả một thế giới mới bằng con mắt của mẹ, thay cho mẹ...
Mẹ yêu con lắm....”

Đọc xong câu chuyện lại nhớ hai câu thơ trong bài thơ “Mắt buồn” của Bùi Giáng, “Bây giờ riêng đối diện tôi, còn hai con mắt một con khóc người”, khóc đây xin khóc cho đôi mắt người mẹ với hạnh vô úy thí của vị Bồ-tát, đã cho người con nhìn thấy thế giới bằng đôi mắt của mình, nhưng người con kia lại vô minh như “Gã Cùng Tử” trong kinh Pháp Hoa. “Thủ khoa đỗ đạt trạng nguyên,khôn mình mà vẫn là người Ngu si”.

Nhưng cũng không hiếm chuyện những người mẹ trẻ thời nay nhẫn tâm vứt máu mủ ruột rà của mình vào những hầm rác,hố xí,bồn cầu…với những tội ác được biện mình bằng sự lầm lỡ, ích kỷ mà ngay cả những con vật cũng chưa thấy có hành động tương tự. 

Điển hình như mới đây, một người mẹ 21 tuổi bỏ đứa con sơ sinh của mình xuống kênh trên báo vnexpress ngày 11/7, rồi tạo hiện trường giả như một vụ bắt cóc con. Theo đó, người phụ nữ đã lẳng lặng đem con trai 11 ngày tuổi bỏ xuống mương nước cách nhà khoảng 100 m. Sau đó, cô ta vào nhà tự lấy vải bịt miệng, trói chân tay của mình lại và la lên cho người nhà biết. Đó là một tội ác, là tội giết người, rất đáng lên án.

Thời mà thước đo giá trị bị lệch về phía thực phẩm thay vì nhân phẩm, lương thực thay vì lương tâm, là bởi xã hội không trang bị được cho người dân ý thức trách nhiệm về việc gìn giữ và phát huy đạo đức tâm linh nguồn cội, phạm vi của chữ hiếu thay vì phải được hiểu rộng theo chuẩn mở rộng thì bị thu hẹp lại trong phạm vi gia đình, nên khi sự vẹn toàn của lãnh thổ đang hiểm nguy, đồng bào bị ‘tàu lạ’ tấn công cướp của nhưng ít được ai lưu tâm.

Ngưỡng cửa vào đời đã mở nhưng chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại chưa được xây dựng, người thanh niên thiếu một thanh gươm trí tuệ và tình thương yêu đồng loại, sự nhường nhịn đủ lớn, nên khi ra đường một cú va quẹt xe rất nhỏ nhưng lại xảy ra án mạng.

Rồi rột người thanh niên chẳng may bị cướp giật rớt túi tiền, người đi đường lương thiện thấy vậy, thay vì giúp đỡ ngươi gặp nạn, nhưng lại chọn cách biến mình thành kẻ cướp mạt hạn, nhảy vào tranh dành những đồng tiền rơi rải vô tội của người bị nan, không thua gì tên đạo tặc. Nhớ trận sóng thần ở Nhật, có tượng Phật bị sóng đánh nằm đìu hiu trong đống đổ nát, một vị sư Nhật khi được hỏi sao thầy không thỉnh Phật về thờ cho trang nghiêm. Sư đáp, cũng xót lắm nhưng đó không phải là của mình, hay như bài học về sự nhường nhịn của cậu bé Ashima 9 tuổi.. bởi vì người dân Nhật hiểu rất rõ về hiếu đạo của mình, hiểu rõ ‘Tứ ân’ trong Phật giáo. 

Đạo hiếu của người Việt từ xưa có nét đặc thù riêng được đề cập trong Lục Độ Tập Kinh, hiếu đâu phải chỉ thương cha thương mẹ là đã làm tròn hiếu đạo của một con người, mà còn phải "Giúp nghèo cứu thiếu, thương nuôi quần sinh, là đứng đầu của hạnh ’’[5].(Lục độ tập kinh 2), từ đó hiểu rõ hơn đạo hiếu của Việt Nam: Tôi ở đời lâu năm, tuy thấy Nho sĩ tích đức làm lành, há có ai như đệ tử Phật quên mình cứu người, âm thầm mà không nêu danh (Lục độ tập kinh 5).  

Người Việt [6] phải xác định mình có một nền văn hóa, một nền đạo đức cần phải bảo vệ, nếu không nối dõi được thì dân tộc không thể tồn tại với tư cách là một dân tộc được. Xuất phát từ quan điểm nối dõi như thế, người Việt không đi đến một chủ nghĩa nối dõi cực đoan, như sự nối dõi về mặt sinh vật học của chủ nghĩa ưu sinh (eugenics) hiện đại, gây tác hại và tốn bao sinh mạng đối với những dân tộc khác, như hành động xâm lấn đất đai, biển đảo từ xưa cũng như gần đây của Trung Quốc. Bảo vệ nền văn hóa của mình, bảo vệ lối sống (hạnh) của mình, đó chính là đạo hiếu của Việt Nam’’.

Cuộc sống bộn bề vốn kèm theo sự xung đột giữa chuẩn mực mới và cũ, ở đó bóng đêm luôn rình rập, trong trạng huống này duy chỉ có ánh sáng là đủ quyền năng, muốn vậy phải có đủ trí tuệ để tìm ra cách hành xử khôn ngoan, để giải thoát ta ra khỏi bóng tôi mê mờ, vừa không bị cuốn theo ma lực hào nhoáng của tiền tài, danh vọng..[ngũ dục], vừa giữ được đạo làm con, vừa giữ được hạnh phúc gia đình và sự thịnh vượng xã hội..ánh sáng đó mà nhà Phật gọi là Trung đạo, hay khái niệm Balance trong kinh tế.

Đạo Phật ra đời hơn hai ngàn năm, những gì mà Phật dạy không ngoài mục đích giúp xác lập trật tự bình đẳng và sự bình an cho xã hội loài người trên con đường đoạn tận khổ đau, trong đó đạo hiếu là căn bản. 

Ngày nay thế giới loài người phải chăng là một chuỗi suy vong các giá trị, những điều tốt đẹp thuở ban đầu dường như về sau suy yếu dần, nhưng chắc chắn một điều rằng, trong khu rừng rậm rạp u tối kia đâu chỉ có mỗi loài hoa độc, mà ở đó vẫn có những đóa hoa như đẹp lan rừng nên Phật mới dạy chúng ta phương cách để vào đó tìm kiếm. 

Mùa Vu Lan, PL  2555

Huệ Lưu
 

[1]  Tiểu Bộ Kinh, Nikaya-Trần Phương Lan dịch
[2]  Theo gương báo hiếu của người xuất gia- Thích Phước Sơn
[4]  Tìm Hiểu Các Danh Nhân, trang 279 đến trang 281, tác giả Nguyễn Phú Thứ
[5]   Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Quan niệm về chữ hiếu của dân tộc Việt Nam, Lê Mạnh Thát
[6]   nt
____________________
Nguyễn Xuân Diện - Blog kính mời chư vị đọc chùm bài về Vu lan tại đây.

-->đọc tiếp...